TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 16.8.2024 V/v: “Ly hôn”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Xuân Thi. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Bé Em. |
| Ông Lê Anh Giàu. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lư Ngọc Thiên An - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 163/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm: 2004. Địa chỉ: D ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Đặng Quốc T, sinh năm: 1997. Địa chỉ: D khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc G trình bày:
Bà và ông T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/01/2023. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tin tưởng nhau, thường xuyên bất hòa với nhau.
Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Về hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với ông T.
- Về con chung: ông bà không có con chung.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung: không có.
Do điều kiện công việc nên bà đề nghị được vắng mặt trong tất các các buổi làm việc và xin được vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử của Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hai triệu tập hợp lệ bị đơn ông Đặng Quốc T đến để tiến hành hòa giải nhưng ông T vắng mặt và không có trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến:
Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định.
Đề nghị áp dụng 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; Về con chung, tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và kết quả nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Ngọc G khởi kiện ông Đặng Quốc T yêu cầu ly hôn nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Đặng Quốc T là bị đơn trong vụ án, có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Ngọc Giàu có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ông Đặng Quốc T đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc G và ông Đặng Quốc T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/01/2023 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo bà G trình bày, sau khi kết hôn cuộc sống của ông bà không hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tin tưởng nhau, thường xuyên bất hòa với nhau.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tiến hành mở phiên hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho ông bà đoàn tụ, tuy nhiên ông T vẫn cố tình không đến, điều này cho thấy ông T không có thiện chí muốn duy trì mối quan hệ vợ chồng, không quan tâm đến việc Tòa án đang giải quyết yêu cầu ly hôn của bà G.
Điều này cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G.
[3.2] Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc G khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc G khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3.4] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc G đối với bị đơn ông Đặng Quốc T về việc tranh chấp ly hôn, cụ thể tuyên:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc G được ly hôn với ông Đặng Quốc T.
- Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc G khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Ngọc G khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc G khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Ngọc G phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001110 ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Bà Nguyễn Ngọc G và ông Đặng Quốc T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phạm Thị Xuân Thi |
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa Bà Nguyễn Ngọc G và ông Đặng Quốc T
