Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày:15/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng;

Bà Quách Thị Thu Hương.

-Thư ký phiên toà: bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Văn T,( tên gọi khác: Không), Sinh năm 1986; tại thành phố N,tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn K, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Đình T1 và bà: Đỗ Thị T2; Vợ: Trần Thị T3 và 4 con; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 20/6/2016 Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 300.000 đồng về hành vi đánh bạc. (đã được xoá).

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặncấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/01/2024 cho đến nay (có mặt).

*Bị hại: Công ty TNHH MTV X. Địa chỉ trụ sở chính: đội 6, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Người đại diện theo pháp luật: ông Bùi Văn Y - Chức vụ: Chủ tịch công ty kiêm Giám đốc;( vắng mặt).

*Người chứng kiến: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1966. ( vắng mặt).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/11/2023, Đỗ Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Biển kiểm soát 98B2-913.96 đến khu dân cư mới phố N, phường N, thành phố N thì nhìn thấy ở ven đường có nhiều tấm lưới chắn rác làm bằng kim loại, kích thước (70x35x05)cm dùng để làm nắp cống, xung quanh không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. T nhặt 01 thanh sắt ở bên đường lần lượt cậy 05 tấm lưới chắn rác, sau khi cậy xong thấy người đi qua trên đường T sợ bị phát hiện nên đi xe về nhà. Trên đường về T vứt thanh sắt dùng để cậy phá nắp cống ở ven đường. Khoảng 05 giờ 30 ngày 10/11/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Biển kiểm soát 98B2-913.96 tiếp tục đến khu dân cư mới phố N, phường N, thành phố N để lấy 05 tấm lưới chắn rác hôm trước cậy phá. T dừng xe ở vị trí tấm lưới chắn rác thứ nhất, sau đó đi bộ lần lượt đến vị trí 04 tấm lưới chắn rác tiếp theo rồi dùng hai tay bê từng tấm đến vị trí tấm thứ nhất. Do 05 tấm lưới chắn rác nặng không thể chở cùng một lúc nên T bê 02 tấm lưới chắn rác lên yên xe phía sau, điều khiển xe chở đến khu vực phố B, phường N, thành phố N cất giấu ở ven đường, rồi quay xe lại chở nốt 03 tấm lưới chắn rác còn lại. Khi T đang chở 3 tấm lưới chắn rác đến vị trí 02 tấm vừa cất giấu thì bị Tổ Công tác Công an phường N, thành phố N làm nhiệm tuần tra phát hiện. Công an phường N đã lập biên bản thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Biển kiểm soát 98B2-913.96, 05 tấm lưới chắn rác làm bằng kim loại kích thước (70x35x05)cm của Đỗ Văn T. Do hành vi vi phạm của T có dấu hiệu tội phạm nên Công an phường N đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N để giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra Đỗ Văn T đã giao nộp 01 giấy bán xe máy ghi ngày 03/9/2023.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 97/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 05 tấm lưới chắn rác bằng kim loại, kích thước (70x35x05)cm có giá trị là 4.392.000 đồng.

Quá trình điều tra, Đỗ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho Công ty TNHH MTV X tấm lưới chắn rác làm bằng kim loại và chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Biển kiểm soát 98B2-913.96.

* Tại bản cáo trạng số 55/CT- VKSNDTPNB, ngày 03/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Đỗ Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

2

* Tại phiên toà :

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản” ;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS;

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T từ 09-12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18-24 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã N, thành phố N giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã N, thành phố N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, các tài sản bị thu giữ: áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 khoản 2 BLTTHS: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 98B2-91396 thu của Đỗ Văn T là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

- Bị cáo Đỗ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với bản tự khai, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản làm việc, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, sơ đồ, bản ảnh xác định hiện trường; vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người chứng kiến, kết luận định giá tài sản số 97/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2023... Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 10/11/2023, tại khu dân cư mới phố N, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Đỗ Văn T có hành vi lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ tài sản trong việc trông coi, quản lý tài sản, đã lén lút chiếm đoạt 05 tấm lưới chắn rác làm bằng kim loại kích thước (70x35x05)cm của Công ty TNHH MTV X, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.392.000 đồng thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo

3

Đỗ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm... ”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

Về nhân thân: Ngày 20/6/2016 Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 300.000 đồng về hành vi đánh bạc, bị cáo chưa nộp phạt, Công an huyện H không ra quyết định cưỡng chế nên đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/11/2023 thì thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã hết, tuy bị cáo đã được xoá nhưng cũng cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo tuy có nhân thân xấu nhưng không phải về hành vi trộm cắp và đã được xóa, có 2 tình tiết giảm nhẹ, phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 BLHS, đồng thời giao bị cáo cho UBND nơi cư trú và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2] Các vấn đề khác:

4

[2.1] Xử lý vật chứng và các tài sản bị thu giữ :

  • - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 98B2-91396 thu giữ của bị cáo T: quá trình điều tra xác định giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên anh Giáp Mạnh C; anh C khai đã bán chiếc xe mô tô cho anh Vũ Văn Q1; anh Q1 khai ngày 03/9/2023 đã bán chiếc xe mô tô cho bị cáo T ( có giấy bán xe máy ngày 03/9/2023). Sau khi mua chiếc xe bị cáo chưa sang tên. Chị T3 (vợ bị cáo T) và bị cáo T khai nhận chiếc xe là tài sản riêng của bị cáo; Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do vậy chiếc xe là tài sản của bị cáo T. Ngày 10/11/2023 bị cáo T dùng chiếc xe mô tô làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 05 tấm lưới chắn rác bằng kim loại KT (70x35x5) cm thu giữ của bị cáo: quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH MTV X đã bị bị cáo T trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của Công ty ( ông Bùi Ngọc T4) là có căn cứ, đúng quy định.
  • - Đối với thanh sắt bị cáo T khai nhận dùng để cậy 05 tấm lưới chắn rác, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã rà soát, truy tìm vật chứng nhưng không thấy nên không có căn cứ để xử lý.
  • - Đối với 01 giấy bán xe máy viết ngày 03/9/2023 nội dung ghi: anh Vũ Văn Q1 bán cho Đỗ Văn T 01 xe máy biển số 98B2-91396 với giá 7.500.000 đồng do bị cáo T giao nộp: đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh việc mua bán xe giữa anh Q1 và bị cáo, chiếc xe đã bị tịnh thu nên lưu giữ tài liệu này trong hồ sơ vụ án.

[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố N đã trả lại tài sản mà bị cáo T đã trộm cắp là 05 tấm lưới chắn rác bằng kim loại KT (70x35x5) cm cho bị hại. Sau khi nhận lại tài sản bị hại không yêu cầu gì đối với bị cáo về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đại diện theo uỷ quyền của bị hại khai nhận ngoài bị trộm cắp 05 tấm lưới chắn rác ngày 10/11/2023 thì từ ngày 15/5/2023 đến ngày 09/10/2023 Công ty còn bị mất thêm 35 tấm lưới chắn rác khác nhưng không trình báo, không xác định được người trộm cắp; Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[4]Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra,

5

truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  • - Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt: bị cáo Đỗ Văn T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng; thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án 15/5/2024. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, thành phố N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử lý vật chứng và tài sản bị thu giữ: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 98B2-91396; số khung RLCU3220GY008693; số máy E3X9E026548. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
  • Lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 giấy bán xe máy BKS 98B2-91396 giữa anh Vũ Văn Q1 và Đỗ Văn T đề ngày 03/9/2023.
  • - Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

6

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND- TPNB;
  • - THADS- TPNB;
  • - THAHS;
  • - Công an TPNB;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn./.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Giang Thị Thúy Thu

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 9 tháng treo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger