|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày 14-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quyết
Bà Phạm Thị Khanh
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Tiến H, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1989, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 và bà Trần Thị V; có vợ là chị Nguyễn Thị H2 (đã chết) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Lê Tiến H bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số: 09/2017/QĐ-TA ngày 17-5-2017 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (Ngày 12-9-2017, Lê Tiến H được đưa vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm G số 02 Hải Phòng đến ngày 04-6-2018, Cơ sở cai nghiện ma tuý số 02 bàn giao Lê Tiến H về gia đình chữa bệnh); tạm giữ ngày 13-5-2024; tạm giam ngày 22-5-2024; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Phạm Văn Đ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 13-5-2024, tổ công tác thuộc Công an huyện V, thành phố Hải Phòng kết hợp cùng Công an xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xã A. Khi tổ công tác đi đến thôn T, xã A thì phát hiện Lê Tiến H đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện tại túi quần phía trước bên trái của Lê Tiến H có 01 ống nhựa màu tím có sọc kẻ màu trắng dài 1,5cm, đường kính 0,5cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (H khai là ma tuý). Sau đó, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong tang vật để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 590/KL-KTHS ngày 20-5-2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận đối với ống nhựa thu giữ được của Lê Tiến H như sau: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,16 gam, loại: Methamphetamine".
Tại Cơ quan điều tra, Lê Tiến H khai nhận: Trưa ngày 13-5-2024, H bắt xe buýt đi từ huyện V đến khu vực đường T, Quận L, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, H gặp và hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá của 01 người nam giới khoảng 40 tuổi, đeo khẩu trang và được người này đưa cho 01 ống nhựa màu tím có sọc kẻ màu trắng dài 1,5cm, đường kính 0,5cm bên trong có ma túy đá. Sau đó, H bắt xe buýt đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, H đi xe ôm đến khu vực thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng thì xuống xe, đi bộ để tìm nơi sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện V kết hợp cùng Công an xã A tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng như nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 26-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Tiến H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Tiến H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 21 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 590MT/PC09. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 13-5-2024, tại thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng, Lê Tiến H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; thấy rằng, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thỏa đáng nhằm đảm bảo trừng trị người phạm tội, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 590MT/PC09 là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 13-5-2024 tại khu vực đường T, Quận L, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không xác minh được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
[11] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Tiến H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lê Tiến H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13-5-2024.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 590MT/PC09, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26-8-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Hữu Hường |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal storage of narcotics)
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal storage of narcotics)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Tiến Huy - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
