Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 64/2024/HSPT

Ngày: 14/6/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Yển, bà Quách Thị Phương Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Quỳnh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

* Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 tại xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Nguyễn Xuân T1 và bà Đoàn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị N1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam 126 ngày từ ngày 15/7/2023 đến ngày 17/11/2023 thì được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh, có mặt.

Ngoài ra, còn có các bị cáo Tiêu Văn L và Trần Văn T2 có kháng cáo. Tuy nhiên, các bị cáo đã rút kháng cáo trước khi Tòa án mở phiên tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo L và T2.

Trong vụ án còn có các bị cáo khác là Nguyễn Thế N2 và Phạm Trọng H không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn cá nhân giữa Nguyễn Văn T và ông Phạm Tuấn H1, nên khoảng 20 giờ ngày 04/7/2023, T gọi điện thoại hẹn gặp ông H1 tại nhà vườn của anh trai ông H1 là ông Phạm Tuấn T3 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau đó, T mượn Phạm Trọng H xe ôtô Mazda 2 màu đỏ, biển kiểm soát 34A-667.00 (xe H mượn chị Phạm Thị Kim O) điều khiển đến điểm hẹn với ông H1. Do H không yên tâm việc T đi một mình nên đã mượn anh C xe máy Wave màu đen, biển kiểm soát 34N2 - 0439 đi theo sau.

Khi qua gần 236 đường B, khu A, thị trấn T, H thấy bạn là Tiêu Văn L đang ở đây nên bảo L cùng đi. Sau đó, H điều khiển xe chở L ngồi sau đi qua nhà trọ của Nguyễn Thế N2 tại khu A, thị trấn T. H hỏi với N2 “sang nhà H1 xem anh T giải quyết công việc thế nào” rồi đi trước. N2 điều khiển xe ô tô Mazda CX5 màu đỏ, biển kiểm soát 34A - 272.15 (xe mượn của chị Nguyễn Thị H2) đi theo sau. H và L đi qua khu vực xã C thì L thấy Trần Văn T2 đang ngồi uống nước nên L gọi T2 đi cùng, T2 đồng ý bảo L cứ đi trước. T2 điều khiển xe máy Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 34F5-1496 (xe mượn của ông Trần Văn T4) cho bạn là Nguyễn Văn V về nhà rồi quay lại đi sang vườn cây nhà ông T3.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, tại cổng vườn cây nhà ông T3, T đỗ xe ôtô rồi đi bộ vào trước. H và L đi theo sau vào trong sân. Khi đi vào, T và ông H1 đứng nói chuyện nợ nần. Do H không thống nhất nên T to tiếng, chửi ông H1. Khi đang cãi vã, anh Vũ Bá H3 (là cháu ông H1) và bạn H3 là anh Vũ Thế N3 đi xe máy đến chơi. H nhìn thấy chị tay vào mặt H3 hỏi “mày là thằng nào”, anh H3 trả lời “em là cháu của anh H1” rồi đi ra nói với H3 “không phải việc của mày, biến ra ngoài” rồi to tiếng chửi bới H3. Thấy vậy, T chạy viên đá ở chậu cây cảnh ném H3 nhưng không trúng, rồi cùng H xông vào dùng chân, tay không đấm đá anh H3. Cùng lúc đó, Nguyễn Thế N2 đang đi từ cổng vào sân, trên tay có cầm theo 01 con dao bằng kim loại sáng màu dài 55cm, bản rộng 5cm, không có đầu nhọn, cán quấn băng dính màu đen chạy đến đuổi đánh H3 thì H3 vùng chạy ra phía cổng nấp vào vườn cây phía sau xưởng sấy hành bên cạnh. N2 đuổi ra phía cổng nấp vào vườn cây phía sau xưởng sấy hành bên cạnh. N2 đuổi theo tìm một lúc không thấy H3 thì quay lại. H3 gọi điện cho mẹ là bà Phạm Thị X và bạn là anh Nguyễn Văn C1 nói về việc bị bọn T đánh. Bà X nói lại với chồng là ông Vũ Bá H4 và con là anh Vũ Bá H5. Ông H4 lấy xe máy đi trước, anh H5 đi xe máy theo sau. Trên đường anh H5 có rủ bạn là anh Nguyễn Duy L1 ở N. T vào cùng H5 đang ngồi lề đường cách vườn nhà ông T3 khoảng 70 m.

Vào đến sân, ông H4 thấy có đông người đứng liền hỏi “ai là T” thì T đi ra vỗ ngực “tao là T đây”. Cùng lúc này H5 và L1 vừa vào đến sân thì H5 bị L, H dùng chân, tay xông đến đánh. Ông H4 thấy vậy vào can ngăn đẩy H5 ra thì Ngọc liền đến dùng dao chém vào bắp tay phải ông H4 gây ra vết thương phần mềm vai - cánh tay phải, kích thước 1x3 trên xương cánh tay phải, chưa đến ống tủy, để lại sẹo mặt trước vai với tỷ lệ trên - ngoài cánh tay phải, kích thước (17x(0,1-0,2))cm với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 5% (Kết luận giám định số 5483 ngày 01/8/2023). H5 thấy vậy bỏ chạy. Anh H3 lúc này đang đứng ở khu vực xưởng hành chạy sang khu vườn nhà ông T3 hô “Bố ơi! Chạy đi! Chúng nó có dao” rồi chạy về phía cổng chính. N2 thấy vậy cầm dao đuổi theo H3 từ trong sân ra tận đến khu vực đường liên xã T - Hồ N. H và L chạy theo sau. Lúc đó, anh Nguyễn Trắc T5, là hàng xóm đi sang xem có việc gì thì nhìn thấy vậy hô “Hiệp ơi! Chạy đi!” rồi ẩn nấp vào khu vườn cây. H3 tiếp tục bị N2 đuổi thêm được khoảng 15m thì bị đuổi kịp. N2 dùng dao chém anh H3 gây các vết thương tại phía sau mặt ngoài trên cánh tay - vai phải kích thước trung bình, vùng lưng - mạn sườn trái kích thước nhỏ, tổn thương màng phổi trái không để lại di chứng với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10% (Kết luận giám định số 5483 ngày 15/9/2023). Khi đó, anh C1 đi xe máy đến thấy vậy đã hô hào lên, còn N2, H, L quay lại vườn cây. Anh C1 đưa anh H3 đến Bệnh viện Đ cấp cứu.

Tại vườn cây lúc này, ông H1 cùng anh L1 đang băng bó cho ông H4 thì có anh Nguyễn Đình L2 đến thấy vậy đã can ngăn, đuổi N2, L, H về nhưng các đối tượng này không về mà đứng ở khu vực bàn uống nước. Lúc này, anh T5 rời chỗ nấp đi vào sân. Lúc đó, T, ông H1, anh L2 đi vào bàn uống nước nói chuyện thì Trần Văn T2 đi xe máy đến. Vào vườn, thấy việc T to tiếng với ông H1 tại bàn uống nước liền đi đến hỏi “thằng nào là thằng H1”. T chỉ tay về phía ông H1. Ông H1 trả lời “Anh là H1 đây” thì T2 chửi bới ông H1 và cầm cốc thủy tinh trên bàn, đập vào đầu ông H1, khiến ông H1 bị đa chấn thương phần mềm, để lại sẹo vùng thái dương đỉnh trái, kích thước (3x0,2)cm, sẹo vùng trán trái kích thước (2x(0,1-0,2))cm với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 4% (Kết luận giám định số 5484 ngày 01/8/2023). Sau đó, anh L2 và anh T5 tiếp tục can ngăn, nhóm của T giải tán, ông H4, ông H1 được người dân đưa đi cấp cứu.

Quá trình sự việc diễn ra, kéo dài khoảng 60 phút từ khu vườn nhà ông T3 kéo dài đến tuyến đường liên xã T - Hồ N, nơi có các hộ dân và hàng quán xung quanh, đông người và phương tiện qua lại. Khi các đối tượng cãi, chửi, đuổi đánh nhau có nhiều người dân tụ tập đứng xem, thấy hoang mang, lo sợ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 28/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt bị cáo T 24 tháng tù, được trừ 126 ngày đã bị tạm giam, còn phải chấp hành 19 tháng 24 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Ngoài ra, bản án còn quyết định tội danh, hình phạt chính, hình phạt đối với các bị cáo khác; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 29/02/2024, bị cáo T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo giao nộp cho Tòa án các tài liệu: Biên lai thu tiền thể hiện bị cáo đã nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; giấy chứng nhận của Hội khuyến học huyện T chứng nhận bị cáo tài trợ cho học sinh nghèo của huyện năm 2019 số tiền 20.000.000 đồng; phiếu thu ngày 02/01/2024 của UBMTTQVN xã V, huyện T thể hiện bị cáo ủng hộ quỹ vì người nghèo xã V, huyện T số tiền 10.000.000 đồng; phiếu thu ngày 02/01/2024 của Hội khuyến học xã V, huyện T thể hiện bị cáo ủng hộ quỹ khuyến học xã V, huyện T số tiền 10.000.000 đồng; xác nhận của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Hải Dương về việc bị cáo đã tố giác một số đối tượng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy giúp Cơ quan CSĐT khởi tố điều tra vụ án; xác nhận của UBND xã V, huyện T về việc bị cáo có bố mẹ già cần người chăm sóc.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như được mô tả trong bản án sơ thẩm, nhất trí với tội danh như cấp sơ thẩm đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải dương tham gia phiên tòa xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt 24 tháng tù là có căn cứ và phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách gấp đôi, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Bị cáo T kháng cáo trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn với ông Phạm Tuấn H1 nên trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 22 giờ ngày 04/7/2023, tại khu vực vườn cây nhà ông Phạm Tuấn T3 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thế N2, Tiêu Văn L, Trần Văn T2, Phạm Trọng H có hành vi chửi bới, gây ầm ĩ, sử dụng dao kim loại, cốc thủy tinh là hung khí nguy hiểm đuổi đánh nhau trên đường liên xã T gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Với hành vi nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Bị cáo không kháng cáo về tội danh.

[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 24 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo giao nộp cho Tòa án các tài liệu: Biên lai thu tiền thể hiện bị cáo đã nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; giấy chứng nhận của Hội khuyến học huyện T chứng nhận bị cáo tài trợ cho học sinh nghèo của huyện năm 2019 số tiền 20.000.000 đồng; phiếu thu ngày 02/01/2024 của UBMTTQVN xã V, huyện T thể hiện bị cáo ủng hộ quỹ vì người nghèo xã V, huyện T số tiền 10.000.000 đồng; phiếu thu ngày 02/01/2024 của Hội khuyến học xã V, huyện T thể hiện bị cáo ủng hộ quỹ khuyến học xã V, huyện T số tiền 10.000.000 đồng; xác nhận và bản sao Quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Hải Dương về việc bị cáo đã tố giác một số đối tượng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy giúp Cơ quan CSĐT khởi tố điều tra vụ án hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật, sống có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội, HĐXX sẽ áp dụng thêm cho bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có khả năng tự cải tạo có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về án treo; bản thân bị cáo cũng có bố mẹ đẻ là người già yếu đang sinh sống cùng cần người chăm sóc nên HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách gấp đôi cũng có tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên tòa phúc thẩm.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, HĐXX sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

[1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp, bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

5

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Thanh Hà;
  • - Công an huyện Thanh Hà;
  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Tòa, lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Lâm

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HSPT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 64/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do có mâu thuẫn với ông Phạm Tuấn H1 nên trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 22 giờ ngày 04/7/2023, tại khu vực vườn cây nhà ông Phạm Tuấn T3 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thế N2, Tiêu Văn L, Trần Văn T2, Phạm Trọng H có hành vi chửi bới, gây ầm ĩ, sử dụng dao kim loại, cốc thủy tinh là hung khí nguy hiểm đuổi đánh nhau trên đường liên xã T gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger