TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 64/2024/HS-PT Ngày: 10 - 9 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Sơn và bà Từ Thị Hải Dương.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 75/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Hồng S, do có kháng cáo của bị cáo S và đại diện hợp pháp của gia đình bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hồng S, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1994; tại B, Quảng Bình; nơi cư trú: thôn D P, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tư L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 14/3/2022 bị Ủy ban nhân dân huyện B xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng các loại pháo, thuốc pháo trái phép”, đã nộp phạt vào ngày 25/3/2022; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/10/2023 đến ngày 23/11/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Dương Văn T1 - Luật sư Công ty TNHH MTV G thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: A D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại:
Bà Trần Thị T2, sinh năm 1978; trú tại: tổ dân phố X, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Ông Trần Phúc U, sinh năm: 1981, trú tại: TDP C, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Đào Văn T3, Thuộc Công ty L1, Chi nhánh Q - Đoàn Luật sư T6. Địa chỉ: B L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1988; trú tại: thôn D P, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Ông Từ Minh C, sinh năm 1989; trú tại: thôn D P, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1984; trú tại: TDP X, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Ông Trần Văn U1, sinh năm: 1984; trú tại: TDP P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Ông Phạm Anh T5. Công tác tại: Phòng C1, Công an tỉnh Q, vắng mặt
Ông Đinh Hải V. Công tác tại: Phòng C1, Công an tỉnh Q, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/7/2023, Nguyễn Hồng S gọi điện thoại hẹn Từ Minh C đi nhậu. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, S điều khiển xe ô tô BKS 73A-186.25, đến nhà Chung chở C đến quán “Dê Khương” có địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình để nhậu. S, C và một số người bạn ngồi nhậu với nhau đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ. Sau đó, S điều khiển xe ô tô BKS 73A-186.25 chở C về, khi gần đến cơ sở lưu trú AMADA thuộc địa phận TDP X, thị trấn P, huyện B thì C nói với S “Em chở anh về nhà bố mẹ vợ anh ở thị trấn P với”, S đồng ý. S điều khiển xe ô tô quay lại và di chuyển trên tuyến đường H theo hướng xã P đi thị trấn P. Cùng lúc này, Trần Phúc Y điều khiển xe mô tô BKS 73F1-436.78 di chuyển từ nhà Trần Văn U1 ra tuyến đường H rồi điều khiển xe di chuyển theo hướng xã P đi thị trấn P. S điều khiển xe ô tô đi cùng chiều phía sau rồi vượt qua xe mô tô BKS 73F1-436.78 do ông Y điều khiển, đi qua đoạn cua về bên phải theo hướng di chuyển được một đoạn thì đến con dốc. Lúc này, C muốn đi vệ sinh nên đã nói với S “Dừng xe lại cho anh đi vệ sinh tỷ”, S giảm tốc độ, bật xi nhan bên phải vừa tấp vào lề đường bên phải theo hướng di chuyển khoảng 01-02 giây thì xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 73F1-436.78 do Trần Phúc Y điều khiển cùng chiều ở phía sau tới. Sau va chạm, S đã cùng với người dân đi đường đưa ông Trần Phúc Y đi cấp cứu tại Phòng khám Đ, huyện B. C nhờ người dân tại hiện trường điều khiển xe ô tô đến Phòng khám Đ. Sau đó, ông Trần Phúc Y được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H1 - Cu Ba Đ rồi chuyển vào Bệnh viện T7 để tiếp tục điều trị, đến sáng ngày 11/7/2023 thì được đưa về nhà và đã tử vong.
Khi đến Phòng khám Đ, S có gọi điện thoại cho anh trai là Nguyễn Văn T4 nói “Anh ơi! Em điều khiển xe tai nạn với người đi xe máy tại con dốc thuộc TDP X, thị trấn P, giờ em có nồng độ cồn trong người rồi, anh xuống phòng khám Đ để nhận lái cho em với”, T4 đồng ý và đến Phòng khám Đ. Tại đây, S có nói với T4: “Em có nồng độ cồn rồi, tý gặp Công an thì nói anh điều khiển nhé, ...”, T4 nói lại: “Ừ, tý anh khai như em nói”. Ngoài ra, S cũng dặn C khai Triều là người điều khiển phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn. Một lúc sau, các cán bộ thuộc Phòng C1 Công an tỉnh Q đến và tiến hành lấy lời khai của C, T4, S, cả ba người cùng khai một nội dung như S đã hướng dẫn trước đó.
Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra Công an huyện B, bị cáo Nguyễn Hồng S đã khai nhận: sau khi vụ tai nạn xảy ra, để phục công tác điều tra của Công an, bị cáo S đã khai báo lại đúng bản chất sự việc đã xảy ra như sau: vào khoảng 22 giờ ngày 05/7/2023 tại Km 950+200m, trên tuyến đường H nhánh Đông thuộc địa phận thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Bị cáo Nguyễn Hồng S có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, đã điều khiển xe ô tô mang BKS 73A-186.25 tham gia giao thông đường bộ theo hướng từ xã P đi thị trấn P, huyện B. Khi đi vào đoạn đường có đặt biển báo chỗ ngoặt nguy hiểm, S đã điều khiển xe ô tô vượt lên xe mô tô cùng chiều phía trước, đồng thời bật xi nhan bên phải rồi dừng xe ô tô trên đoạn đường không được dừng, nên dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 73F1-436.78 do Trần Phúc Y điều khiển cùng chiều phía sau đến. Hậu quả làm ông Trần Phúc Y bị thương nặng được đưa vào bệnh viện điều trị và tử vong sau đó.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 100/KLGĐTT-TTGĐYK-PY ngày 07/8/2023 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Q, kết luận: Nạn nhân Trần Phúc Y chết do chấn thương sọ não.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã thu giữ và trả lại: 01 xe mô tô BKS 73F1-436.78, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Phúc Y; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 025990; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô-xe máy cho gia đình ông Trần Phúc Y. Thu giữ và trả lại 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Nguyễn Văn T4 cho ông T4; thu giữ và trả lại 01 giấy đăng ký xe ô tô số 032265, biển kiểm soát 73A-186.25; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số 0222891; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới số 5655593 và 01 đầu thu camera giám sát hành trình nhãn hiệu VIETMAP C6 cho Nguyễn Hồng S. Hiện đang tạm giữ theo hồ sơ vụ án: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...] mang tên Nguyễn Hồng S; 01 file video thể hiện nội dung vụ việc liên quan đến tai nạn giao thông đường bộ.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: bị cáo Nguyễn Hồng S và gia đình bị hại tự nguyện thỏa thuận bồi thường, hỗ trợ mọi chi phí liên quan đến vụ tai nạn giao thông với số tiền là 300.000.000 đồng, gia đình bị hại đã nhận đầy đủ số tiền trên.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT - VKSBT ngày 29 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S 12 (mười hai) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/10/2023 đến ngày 23/11/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia phiên tòa được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Hồng S có đơn kháng cáo cho rằng bị cáo không phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn kháng cáo đề nghị xem xét tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm
Bị cáo và người bào chữa cho bị cáo cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là không có cơ sở. Thể hiện, vị trí xe ô tô 73A-186.25 dừng xe (Km 950+200) nơi xe mô tô BKS 73F1-436.78 va chạm xảy ra tai nạn, không nằm trên đoạn đường cong, không nằm gần đầu dốc và tầm nhìn hoàn toàn thông thoáng không bị che khuất (theo vi bằng số 64/2024/VB-TPLĐH ngày 26/4/2024 của Văn phòng T8 và file video kèm theo vi bằng). Trong phạm vi đoạn đường từ Km 950 + 50 đến Km 950 + 350 là đoạn đường trên dốc nhẹ, không có biển báo nguy hiểm đường dốc, biển cấm dừng đỗ. Theo quy định điểm b khoản 4 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ, thì hành vi vi phạm phải có đầy đủ 3 dấu hiệu nói trên, nhưng hành vi của S không thoã mãn 3 dấu hiệu trên. Vì vậy, bị cáo S không vi phạm giao thông đường bộ theo điểm b khoản 4 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ. Khi va chạm xảy ra xe ô tô 73A-186.25 mà bị cáo S điều khiển đang trong trạng thái dừng, đỗ. Thời gian xe ô tô 73A-186.25 dừng xe cho đến lúc xảy ra va chạm là 3-4 giây phù hợp với lời khai của bị cáo S và C. Do đó, xe ô tô 73A-186.25 không dừng xe đột ngột. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, chưa làm rõ phần lỗi của bị hại khi điều khiển xe máy tham gia giao thông, trong máu có nồng độ cồn vượt nhiều lần mức quy định tối đa, không làm chủ hành vi, dẫn đến thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ là nguyên nhân xảy ra tai nạn (thể hiện tại phiếu xét nghiệm của Bệnh viện H1 - Cu Ba Đ ngày 06/7/2023 kết luận định lượng cồn trong máu của Trần Phúc Y là 67,2mmol/L, tương đương 67,2mmol/L= 309,66mg/100ml cồn trong máu). Từ những lập luận trên, bị cáo S và người bào chữa cho rằng bị cáo Nguyễn Hồng S không phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, như bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại cho rằng: Bị cáo đã thừa nhận có sử dụng bia khi điều khiển xe tham gia giao thông, nhưng chỉ bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 260 BLHS; đã có hành vi gian dối nhờ người khác nhận thay mình lái xe, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng khi điều tra, xác minh vụ việc, nhưng không áp dụng tình tiết tăng nặng “có hành động xảo quyệt nhằm trốn tránh hoặc che dấu tội phạm”. Bị cáo điều khiển xe ô tô trong khi đã sử dụng bia rượu, dừng xe giữa đường một cách đột ngột, tại vị trí không được dừng đỗ, nhưng trong quá trình xét xử bị cáo cho rằng không có lỗi, quanh co, chối tội, cho rằng mình bị oan, không thể hiện sự ăn năn hối cãi, không thành khẩn khai báo nhưng cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là không đúng quy định của pháp luật. Bị hại có nồng độ cồn là vi phạm hành chính không phải là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị UBND huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng các loại pháo, thuốc pháo trái phép”. Sau khi xảy ra tại nạn, bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, gọi nhiều người đến gây sự tại nơi cấp cứu, có những lời lẽ thách thức, không sợ, có người hướng dẫn. Do đó, đại diện hợp pháp của bị hại thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 tháng tù giam là quá nhẹ. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của những người tham gia tố tụng. Có căn cứ khẳng định bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tại phien tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Đối với kháng của đại diện hợp pháp bị hại. Bị cáo thừa nhận có sử dụng bia nhưng không có căn cứ xác định bị cáo có nồng độ cồn, nên không có căn cứ để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng đối với bị cáo. Sau khi xảy ra tai nạn do bị cáo có sử dụng bia nên sợ và đã nhờ người khác nhận lái xe thay để che dấu hành vi của mình, nhưng sau đó bị cáo đã khai báo lại đúng sự việc diễn ra với thực tế, nên cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “Thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải” là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hồng S. Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và ý kiến của những người tham gia tố tụng có mặt đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 27 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Hồng S có đơn kháng cáo và ngày 30 tháng 5 năm 2024, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đơn kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại là đảm bảo về người kháng cáo, thời hạn, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng S, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Về tội danh: Căn cứ lời khai của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, thấy rằng. Đoạn đường xảy ra tai nạn là Km 950 + 200 đường H thuộc địa phận thị trấn P, là đoạn đường cong theo hướng Đông Bắc về T, dốc lên theo hướng đi từ xã P về thị trấn P. Tại điểm xe ô tô bị cáo điều khiển dừng không có biển báo nguy hiểm đường dốc, biển báo cấm dừng, cấm đổ nhưng nằm trong phạm vi biển cảnh báo “Chỗ ngoặt nguy hiểm”, ngay gần đầu dốc là vị trí gây nguy hiểm cho các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, không được dừng, đỗ xe theo quy định của Luật giao thông đường bộ, nhưng bị cáo đã điều khiển xe ô tô BKS 73A-186.25 tham gia giao thông khi đi vào đoạn đường có đặt biển báo “Chỗ ngoặt nguy hiểm”, bị cáo đã điều khiển xe ô tô vượt lên xe mô tô cùng chiều phía trước, nhưng thiếu chú ý quan sát phía sau xe ô tô bị cáo điều khiển có xe mô tô chạy sát xe bị cáo, nên đã bật xi nhan bên phải rồi dừng xe đột ngột. Việc bị cáo dừng xe đột ngột tại nơi không được phép, đoạn đường có gắn biển báo “Chỗ ngoặt nguy hiểm”, thời điểm dừng xe vào ban đêm, dừng xe chiếm hơn một phần hai làn đường, làm cho tầm nhìn của bị hại là ông Trần Phúc Y đang tham gia giao thông phía sau cùng chiều bị hạn chế, không phán đoán được để xử lý tình huống, dẫn đến va chạm với xe ô tô BKS 73A-186.25 do bị cáo điều khiển đang dừng. Hậu quả làm cho bị hại ông Trần Phúc Y bị tử vong. Hành vi dừng xe ô tô của bị cáo đã vi phạm vào điểm b khoản 4 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết một người và xe ô tô, mô tô bị hư hỏng. Do đó, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo căn cứ vào vi bằng số 64/2024/VB-TPLĐH ngày 26/4/2024 của Văn phòng T8 và file video kèm theo để cho rằng bị cáo dừng xe không nằm trên đoạn đường cong, không nằm gần đầu dốc, tầm nhìn hoàn toàn thông thoáng, không bị che khuất, trước khi dừng xe bị cáo đã bật xi nhan, việc dừng xe của bị cáo là không đột ngột, nên bị cáo không vi phạm điểm b khoản 4 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ và không phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là chưa đủ căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã được học luật giao thông đường bộ và được cấp giấy phép lái xe hợp lệ theo quy định, nên nhận thức và biết được khi tham gia giao thông phải tuyệt đối chấp hành đúng các quy định của Luật giao thông đường bộ, nhưng do chủ quan, thiếu chú ý quan sát nên đã dừng xe tại nơi không được phép dừng, đoạn đường có gắn biển báo “Chỗ ngoặt nguy hiểm”, để xảy ra tai nạn làm chết một người. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ và xâm phạm đến tính mạng của ông Y, làm mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để trừng trị, giáo dục bị cáo và mang tính răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo là người có nhân thân không tốt, phạm tội nghiêm trọng, khi xảy ra tai nạn bị cáo đã gian dối khai báo, khai anh trai của bị cáo là người điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông để che giấu trước đó bị cáo đã sử dụng rượu, bia nhưng sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bị cáo đã thành thật khai báo các tình tiết về vụ án. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bố bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm s, b khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo 12 tháng tù là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình và nhân thân của bị cáo.
[3] Xét kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại, Hội đồng xét xử thấy: Việc bị cáo thừa nhận trước đó có sử dụng rượu bia, điều khiển xe ô tô dừng xe tại nơi không được phép, đoạn đường có gắn biển báo “Chỗ ngoặt nguy hiểm”, làm cho tầm nhìn của bị hại đang tham gia giao thông phía sau cùng chiều bị hạn chế, không phán đoán được để xử lý tình huống, dẫn đến va chạm với xe ô tô BKS 73A-186.25 do bị cáo điều khiển đang dừng, làm cho bị hại bị tử vong. Tuy nhiên, tại thời điểm xảy ra tai nạn, để che giấu trước đó bị cáo đã sử dụng rượu bia khi điều khiển ô tô tham gia giao thông, nên đã khai anh trai của bị cáo là người điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông đối với bị hại, nên Phòng C1 Công an tỉnh Q không tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, không có kết luận của cơ quan chuyên môn về nồng độ cồn đối với bị cáo. Vì vậy, không có căn cứ xác định nồng độ cồn đối với bị cáo, nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo tình tiết định khung tăng nặng “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...”. Ngoài ra, sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo vẫn nhận thức được đã sử dụng rượu bia khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là vi phạm pháp luật, nên đã khai báo gian dối, khai anh trai của bị cáo là người điều khiển xe ô tô mang BKS 73A-186.25 gây tai nạn giao thông và bị cáo nhận thức việc dừng xe của bị cáo không vi phạm Luật giao thông đường bộ, nên cho rằng bị cáo không có lỗi, không phạm tội. Tuy nhiên, sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bị cáo đã khai báo thành khẩn về diễn biến hành vi phạm tội xảy ra, nên Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “có hành động xảo quyệt nhằm trốn tránh hoặc che dấu tội phạm” mà áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo và năn năn hối cải” đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại đề nghị cấp phúc thẩm tăng nặng hình phạt đối với bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hồng S và gia đình nạn nhân Trần Phúc Y tự nguyện thỏa thuận về số tiền bồi thường, hỗ trợ mọi chi phí liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ số tiền là 300.000.000 đồng, gia đình bị hại đã nhận đầy đủ số tiền theo thoả thuận. Tại phiên toà bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại không có ý kiến gì, nên Hội đồng xét xử giữ nguyên theo quyết định của Bản án sơ thẩm.
[5] Về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử lý đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa không ai có ý kiến, yêu cầu gì, nên giữ nguyên theo quyết định của Bản án sơ thẩm.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng S về việc bị cáo không phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại về tăng nặng hình phạt đối với bị cáo. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
[6] Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng S không được chấp nhận, nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng S, về việc bị cáo không phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
- Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại bà Trần Thị T2 về tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hồng S.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
3. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S 12 (Mười hai) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/10/2023 đến ngày 23/11/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
4. Các quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm có hiệu lực pháp luật theo Bản án sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
5. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Hồng S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Viết Hải |
Bản án số 64/2024/HS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 64/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng S, về việc bị cáo không phạm tội; Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại về tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
