|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày 09-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Nhàn
- Ông Vũ Văn Thi
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị X; nơi cư trú: Thôn D, xã Lê Thiện, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T; nơi thường trú: Thôn D, xã Lê Thiện, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, hiện đang chấp hành án phạt tù tại đội 33 K6 phân trại 6, trại giam Phú Sơn 4, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Phạm Thị X trình bày:
Chị và anh Nguyễn Hữu T kết hôn trên cơ sở hai bên đều tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 28/02/2012. Sau ngày cưới hai bên về chung sống tại thôn Dụ Nghĩa, xã Lê Thiện, huyện An Dương, Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nhiều lần xảy ra tranh cãi và bất hòa, chị đã tìm nhiều cách khắc phục nhưng không được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng và căng thẳng hơn. Cuối năm 2023, anh T vi phạm pháp luật đến tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt anh T 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Hiện anh T đang chấp hành án tại đội 33 K6, phân trại 6 trại giam Phú Sơn 4, Thái Nguyên. Do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, hai bên không thể khắc phục mâu thuẫn đoàn tụ với nhau, sống ly thân. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Hữu T có 02 con chung là Nguyễn Hữu B, sinh ngày 12/4/2013 và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 12/4/2013. Đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị nuôi dưỡng sau ly hôn. Cấp dưỡng nuôi con chị và anh T thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại chị làm công nhân có thu nhập và thời gian để nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Hữu T vắng mặt tại phiên tòa, quá trình tố tụng anh T trình bày:
Anh và chị Phạm Thị X kết hôn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã Q, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận không có mâu thuẫn gì. Do anh vi phạm pháp luật, tháng 3 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt anh 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Hiện anh đang chấp hành án tại đội 33 K6, phân trại 6 trại giam Phú Sơn 4, tỉnh Thái Nguyên. Việc chị X xin ly hôn, anh đồng ý do tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục đoàn tụ. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Phạm Thị X ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Phạm Thị X có 02 con chung là Nguyễn Hữu B, sinh ngày 12/4/2013 và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 12/4/2013. Do anh đang chấp hành án, đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh và chị X tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự: Xử cho chị Phạm Thị X được ly hôn anh Nguyễn Hữu T. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hữu B, sinh ngày 12/4/2013 và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 12/4/2013 cho chị Phạm Thị X nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thị X phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Chị Phạm Thị X khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Hữu T có nơi thường trú: Thôn D, xã Lê Thiện, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Xét việc vắng mặt của chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T: Tại phiên tòa chị X, anh T vắng mặt nhưng có quan điểm đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T.
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập có đủ cơ sở xác định lời khai của chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện quá trình chung sống hai bên không có hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Quá trình giải quyết vụ án, chị X, anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn nghiêm trọng không thể khắc phục đoàn tụ và đều có nguyện vọng đề nghị Tòa án giải quyết cho hai bên được ly hôn. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị X và anh T đã kéo dài và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Phạm Thị X được ly hôn anh Nguyễn Hữu T.
- [4] Về con chung: Chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T có hai con chung Nguyễn Hữu B, sinh ngày 12/4/2013 và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 12/4/2013. Quá trình giải quyết vụ án, chị X và anh T có quan điểm thống nhất đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị X nuôi dưỡng sau ly hôn, về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn hai bên tự thỏa thuận, không yêu câu Tòa án giải quyết. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập, điều kiện nuôi dưỡng con chung, quan điểm của đương sự, nguyện vọng con chung muốn ở với chị X. Xét quan điểm thống nhất về việc nuôi dưỡng con chung sau ly hôn của chị X và anh T là tự nguyện, phù hợp với pháp luật giao con chung Nguyễn Hữu B, Nguyễn Hữu T cho chị Phạm Thị X nuôi dưỡng.
- [5] Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, sau này các bên có tranh chấp, Tòa án xem xét giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật
- [6] Về tài sản chung: Chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.
- [7] Về án phí: Chị Phạm Thị X phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
- [8] Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, khoản 1 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị X được ly hôn anh Nguyễn Hữu T.
- 2. Về con chung: Chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T có hai con chung Nguyễn Hữu B, sinh ngày 12/4/2013 và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 12/4/2013. Ly hôn giao con chung Nguyễn Hữu B, Nguyễn Hữu T cho chị Phạm Thị X trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
-
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- 4. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- 5. Về án phí: Chị Phạm Thị X phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn chị X đã nộp (biên lai thu tiền số 0008437 ngày 21/5/2024) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị X đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- 6. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị X và anh Nguyễn Hữu T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xuân Tùng ly hôn
