TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 12 - 2023 V/v ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG,
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ;
2. Ông Trương Hữu Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 485/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 485/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Phi L, sinh năm 1969. Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1982. Hộ khẩu thường trú: Số A đường T, khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 07/11/2023, bản tự khai ngày 07/11/2023, biên bản hòa giải ngày 22/11/2023 nguyên đơn (ông L) trình bày:
Ông L và bà A chung sống với nhau từ năm 2001, hôn nhân tự nguyện, không tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hiện nay vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc nhau do không còn yêu thương nhau, đời sống vợ chồng quá tẻ nhạt và mệt mỏi, không có hạnh phúc nên không còn sống chung từ năm 2004 đến nay. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên nguyên đơn ông L yêu cầu ly hôn với bị đơn bà A.
Trong thời gian chung sống có 01 con chung tên Đoàn Nguyễn Kim K, sinh ngày 07/5/2002. Đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 22/11/2023, biên bản hòa giải ngày 22/11/2023, bị đơn (bà A) trình bày:
Bà A thống nhất với lời trình bày của ông L về quá trình chung sống với nhau từ năm 2001, hôn nhân tự nguyện, không tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn. Hiện đã ly thân từ năm 2004 đến nay. Trước yêu cầu xin ly hôn của ông L thì bà A đồng ý vì mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã trầm trọng, không thể đoàn tụ, sống chung với nhau được nữa.
Về con chung: Có 01 con chung tên Đoàn Nguyễn Kim K, sinh ngày 07/5/2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại các Điều 26, 35, 39 về thẩm quyền thụ lý vụ án; Điều 68 về xác định tư cách tham gia tố tụng; các Điều 93 đến 97 về việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; Điều 195, 196 về trình tự thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý; Điều 203 về thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 70, 71 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy: Năm 2001, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau như vợ chồng tại thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, không tổ chức lễ cưới cũng không đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 9, 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không công nhận nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết “ly hôn”, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Do nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2001, hôn nhân tự nguyện, không tổ chức lễ cưới cũng không đăng ký kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân không hợp pháp theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã phân tích, giải thích cho nguyên đơn, bị đơn biết, hai bên đương sự sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2001 đến nay, có con chung nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không được công nhận là vợ chồng. Nguyên đơn, bị đơn có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu nguyên đơn và bị đơn có thiện chí đoàn tụ về chung sống với nhau thì tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, quan hệ hôn nhân của hai bên đương sự được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn. Tuy nhiên nguyên đơn, bị đơn vẫn kiên quyết xin ly hôn vì mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã trầm trọng, không còn sống chung từ năm 2004 đến nay, không thể đoàn tụ sống chung với nhau được nữa.
Vì vậy, căn cứ Điều 9, 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng.
2.2. Về con chung: Có 01 con chung tên Đoàn Nguyễn Kim K, sinh ngày 07/5/2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
[4] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 28, 39, 147, 179, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
- - Điều 9, 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 17 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Đoàn Phi L và bà Nguyễn Thị Ngọc A là vợ chồng.
- Về con chung: Con chung tên Đoàn Nguyễn Kim K, sinh ngày 07/5/2002 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Ông Đoàn Phi L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0009610 ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Lan |
Bản án số 64/2023/HNGĐ-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 64/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông L yêu cầu ly hôn với bà A
