|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày: 06/09/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thúy Hằng. |
| Thẩm phán: | Ông Bùi Đăng Huy. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Dương Thị Kim Hồng. |
| Bà Phạm Thị Thà. | |
| Ông Nguyễn Đức Hạnh. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Như Sáng – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 06 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/HSST-QĐ ngày 14 thnsg 08 năm 2024, đối với bị cáo:
Đàm Thanh T, sinh năm: 1988; nơi cư trú và chỗ ở: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Đàm Hồng T1 (đã chết) và con bà Đào Thị H (đã chết); có vợ là Lò Thu H1 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Trung K, văn phòng L2, thuộc đoàn luật sư tỉnh H; địa chỉ số A Hồ N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; có mặt.
Bị hại:
- Chị Lê Thị M, sinh năm 1983; địa chỉ: đường T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Chị Lê Thị N, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
- Chị Đinh Thị Thu H2, sinh năm 1988; địa chỉ: số A Cầu C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Chị Nguyễn Thị Hoài T2, sinh năm 1988; địa chỉ: N, M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Chị Trần Bích D, sinh năm 2002; địa chỉ: Số G đường A, KP4 phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Anh Đỗ Đức D1, sinh năm 2002; địa chỉ: T, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
- Chị Trần Đinh Bích T3, sinh năm 2001; địa chỉ: số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.
- Chị Nguyễn Thị Thanh M1, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên.
- Chị Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm 1986; địa chỉ: thôn T, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
- Chị Phan Thị Hồng N1, sinh năm 2001; điạ chỉ: khu A xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đàm Thị L, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
Người làm chứng:
- Bà Phan Thị Kim H3, sinh năm 1971;
- Bà Phan Thị Kim T5, sinh năm 1969;
- Chị Lò Thu H1, sinh năm 1990;
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2023, Đàm Thanh T đưa thông tin gian dối trên các nhóm Facebook như “Kinh Dịch Hội”, “Luận quẻ Kinh Dịch” về việc có khả năng cúng để chữa bệnh, tìm người thân bị mất tích; làm thủ tục lấy đồ ở sân bay bị thất lạc, tìm chó mèo bị lạc… nhằm chiếm đoạt tiền của họ chi tiêu cá nhân. T sử dụng các tài khoản facebook mang tên “Anh M”, “Triệu Tử Long”, các số điện thoại 0346.223.xxx, 0967.142.956 và các tài khoản mang tên Đàm Thanh T số [...] mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C3, tài khoản số 19033634256012 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần K2 để liên lạc, giao dịch, nhận tiền. Bằng thủ đoạn này T đã chiếm đoạt được 743.756.000 đồng của 10 người, cụ thể như sau:
Hành vi nhất: Đầu tháng 02/2023, Đàm Thanh T thấy chị Lê Thị M, sinh năm 1983, trú tại khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương sử dụng tài khoản Facebook tên “Minh Le” đăng bài trong nhóm Facebook “Luận quẻ kinh dịch” hỏi về tình trạng sức khỏe của con chị M bị bệnh từ năm 2012, đã đi chữa bệnh nhiều nơi nhưng không khỏi. T sử dụng tài khoản Facebook tên “Anh M” bình luận nói có thể cúng con chị M khỏi bệnh. Chị Minh t thật nên từ ngày 06/02/2023 đến ngày 16/4/2023 đã chuyển tiền qua tài khoản cho T làm 66 lần với tổng số tiền 86.383.000 đồng cho T.
Hành vi thứ 2: Ngày 11/6/2022, Đàm Thanh T thấy chị Lê Thị N, sinh năm 1993, trú tại Thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Quảng Nam sử dụng tài khoản Facebook tên “Lê C” đăng bài trong nhóm “Kinh Dịnh Hội” hỏi tìm đồ ở sân bay với nội dung có quà của một người bạn ở nước ngoài gửi về nhưng do thủ tục trục trặc nên chưa nhận được. T sử dụng tài khoản Facebook tên “Anh M”, nhắn tin cho chị N nói tên là V, có người quen làm ở sân bay, nếu muốn tìm đồ thì sẽ giúp liên hệ. T yêu cầu chị N chuyển tiền để lấy hàng, tiền thuế hàng, tiền sân bay, chuyển tiền để lấy lại số tiền đã chuyển. Chị N tưởng thật nên từ ngày 13/6/2022 đến ngày 14/01/2023, đã chuyển tiền qua tài khoản cho T làm 401 lần với tổng số tiền 489.767.000 đồng. Để tạo niềm tin cho chị N tiếp tục chuyển tiền, T chuyển lại cho chị N 48 lần, tổng số tiền là 14.727.000 đồng, nội dung là hoàn tiền hoặc hỗ trợ thủ tục lấy đồ ở sân bay. Số tiền còn lại T chưa trả cho chị N là 475.040.000 đồng.
Hành vi thứ 3: Ngày 04/02/2023, Đàm Thanh T thấy chị Đinh Thị Thu H2, sinh năm 1988, trú tại số A đường C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương sử dụng tài khoản Facebook tên “Dinh Huong” đăng bài trong nhóm “Kinh Dịch Hội” để hỏi về việc con của chị H2 bị chết đuối nước chưa tìm được thi thể. T sử dụng tài
khoản Facebook tên “Anh M”, nhắn tin cho chị H2 nói có thể làm lễ để tìm được thi thể con của chị H2. Chị H2 tưởng thật nên từ ngày 15/3/2023 đến 15/4/2023, đã chuyển tiền qua tài khoản cho T làm 76 lần với tổng số tiền 90.318.000 đồng. Để tạo sự tin tưởng cho chị H2 tiếp tục chuyển tiền, từ ngày 19/3/2023 đến 15/4/2023, T chuyển khoản lại cho chị H2 06 lần với số tiền là 1.036.000 đồng. Số tiền còn lại T chưa trả cho chị H2 là 89.282.000 đồng.
Hành vi thứ 4: Ngày 08/5/2023, Đàm Thanh T thấy Nguyễn Thị Hoài T2, sinh năm 1989, trú tại xã M, thị xã B, tỉnh Bình Dương sử dụng tài khoản Facebook tên “Gia Mẫn” viết trên nhóm facebook “Kinh Dịch Hội” hỏi về việc chị T2 có thể sớm mua được nhà tại tỉnh Bình Dương hay không. T sử dụng tài khoản facebook “Anh M” nhắn tin nói phải làm lễ thì sớm mua được nhà. Chị T2 tưởng thật nên từ ngày 09/5/2023 đến ngày 24/5/2023, đã chuyển tiền qua tài khoản cho T làm 30 lần, với tổng số tiền là 11.534.000 đồng. Để tạo sự tin tưởng cho chị T2 tiếp tục chuyển tiền, từ ngày 14/5/2023 đến 15/5/2023, T chuyển trả chị T2 03 lần với số tiền là 21.000 đồng. Số tiền còn lại T chưa trả cho chị T2 là 11.513.000 đồng.
Hành vi thứ 5: Ngày 18/12/2022, Đàm Thanh T thấy chị Trần Bích D, sinh năm 2002, trú tại phường N, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh sử dụng tài khoản Facebook tên “Tran Bich Du” đăng bài viết trên nhóm facebook “Kinh Dịch Hội” và “Luận Quẻ Kinh D2” nhờ tìm mèo của chị D bị lạc. T sử dụng tài khoản facebook “Triệu Tử L1” nhắn tin cho chị D hướng dẫn cách làm lễ thì sớm tìm được mèo bị lạc chị D tưởng thật nên từ ngày 18/12/2022 đến ngày 27/12/2022, đã chuyển tiền qua tài khoản cho T làm 16 lần, với tổng số tiền 5.452.000đồng.
Hành vi thứ sáu: Khoảng đầu tháng 3/2023, Đàm Thanh T thấy anh Đỗ Đức D1, sinh năm 2002, trú tại xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang sử dụng tài khoản facebook tên “Đỗ D1” bình luận về một trận bóng đá trên mạng. T sử dụng tài khoản “Anh M” nhắn tin cho anh D1 nội dung nếu anh D1 gửi số tài khoản ngân hàng cho T thì T có thể rút được 20.000.000 đồng cho anh D1, nhưng anh D1 phải chuyển trước cho T 750.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục đưa ra nhiều lý do như tài khoản bị lỗi, lệnh nhập lỗi... để tiếp tục yêu cầu anh D1 chuyển tiền. Từ ngày 10/3/2023 đến ngày 16/6/2023, anh D1 đã chuyển tiền qua tài khoản cho T làm 67 lần, với số tiền 31.771.000 đồng. Cũng trong thời gian trên, để tạo sự tin tưởng cho anh D1 chuyển tiền thì T nhiều lần chuyển trả lại tiền vào tài khoản cho anh D1 với các lý do như: hoàn lại tiền do lệnh bị nhập sai, hỗ trợ tiền để tiếp tục nạp tiền để có thể rút được số tiền lớn hơn, tổng số tiền T chuyển lại trả cho anh D1 là 9.920.000 đồng. Số tiền còn lại T chưa trả cho anh D1 là 21.851.000 đồng.
Hành vi thứ 7: Ngày 06/8/2022, Đàm Thanhh T6 thấy chị Trần Đinh Bích T3, sinh năm 2001, trú tại phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng sử dụng tài khoản Facebook tên “Bích Trâm” đăng bài viết trên nhóm “Kinh Dịch Hội”, nhờ mọi
người tìm chó bị thất lạc. T6 sử dụng tài khoản Facebook tên “Anh M” nhắn tin cho chị T3 hướng dẫn cách làm lễ thì sẽ sớm tìm được chó. Chị T3 tin là thật, từ ngày 11/8/2022 đến ngày 10/9/2022, chị T3 chuyển qua tài khoản cho T6 làm 24 lần, tổng số tiền 10.900.000đồng.
Hành vi thứ 8: Ngày 28/02/2023, Đàm Thanh T thấy chị Nguyễn Thị Thanh M1, sinh năm 1989, trú tại xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang sử dụng tài khoản Facebook tên “Mai Nguyen” đăng bài viết trên nhóm Facebook “Kinh Dịch Hội”, nhờ tìm chó bị lạc. T sử dụng tài khoản F “Anh M” nhắn tin cho chị M1 hướng dẫn cách làm lễ thì sẽ sớm tìm được chó/ Chị M1 tin là thật, từ ngày 28/02/2023 đến ngày 05/3/2023, chị M1 đã chuyển qua tài khoản cho T làm 11 lần, với số tiền là 8.879.000 đồng.
Hành vi thứ 9: Khoảng tháng 01/2023, Đàm Thanh T thấy chị Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm 1986, trú tại xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang sử dụng tài khoản Facebook tên “Thoa N2” viết bài trên nhóm Facebook “Kinh Dịch Hội” nhờ tìm thi thể anh trai của chồng chị T4 bị chết đuối trên sông L. T sử dụng tài khoản Facebook "Anh M” nhắn tin cho chị T4 nói là làm lễ sẽ sớm có thông tin và tìm được người nhà. Chị T4 tin là thật nên ngày 18/01/2023, chị T4 chuyển qua tài khoản cho T làm 4 lần với số tiền là 5.251.000 đồng.
Hành vi thứ 10: Khoảng giữa tháng 5/2023, Đàm Thanh T thấy chị Phan Thị Hồng N1, sinh năm 2001, trú tại xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ sử dụng tài khoản Facebook tên “Hồng Ngọc” và “Trần Nhật M2” đăng bài viết trên nhóm “Kinh Dịch Hội” nhờ hỏi xem bố chị N1 bị ốm có khỏi bệnh được không. T sử dụng tài khoản Facebook “Anh M2” nhắn tin cho bị N1 nói phải làm lễ thì bố chị N1 mới khỏi được bệnh. Chị Ngọc t1 là thật, từ ngày 16/5/2023 đến ngày 21/5/2023, chị N1 chuyển qua tài khoản cho T làm 06 lần số tiền là 3.501.000 đồng.
Đàm Thanh T sử dụng số tiền 718.052.000đồng chiếm đoạt được của 10 người bị hại trên như sau: Chuyển qua tài khoản cho vợ đã ly hôn là chị Lò Thu H1, sinh năm 1988, trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên, số tiền 23.100.000 đồng để nuôi con; chuyển đến 06 tài khoản để đổi điểm và sử dụng đánh bạc trên mạng Internet số tiền 694.952.000 đồng. Cụ thể:
- Đối với tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1 chủ tài khoản là Phan Thị Kim T5, sinh năm 1969, trú tại phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh và tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1 chủ tài khoản là Phan Thị Kim H3, sinh năm 1971, trú tại phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. H3 và T5 được đối tượng mới quen biết (không rõ nhân thân, lý lịch) nhờ mở 02 tài khoản nêu trên nhưng không sử dụng các tài khoản và không có mối quan hệ gì với Đàm Thanh T.
- Đối với tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1: chủ tài khoản là Nguyễn Lý Đăng K1, sinh năm 1998, trú tại phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam và tài khoản số [...]: chủ tài khoản là Bùi Thị Diễm T7, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh với chính quyền địa phương xác định không có những người nêu trên cư trú trên địa bàn.
- Đối với tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1 chủ tài khoản là Trần Như C1, sinh năm 1987, trú tại X - X - Đồng Nai và tài khoản số 9384848002 mở tại ngân hàng V2 chủ tài khoản là Tô Thị Tuyết N3, địa chỉ Tổ E thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái: Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được với C1 và N3 để làm rõ các nội dung có liên quan đến vụ án.
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSHD-P1 ngày 10/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đàm Thanh T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo xác định nội dung sự việc và hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi của mình, không bị ai ép buộc phải khai nội dung gì không đúng diễn biến sự việc, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Qua các hội nhóm trên mạng xã hộ Facebook, bị cáo chủ động tìm và liên hệ với các bị hại. Bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối như phải làm lễ cúng để người thân của bị hại khỏi bệnh, để tìm được xác người thân, tìm được chó, mèo hoặc làm thủ tục lấy được tài sản thất lạc tại sân bay, rút được tiền trong tài khoản khác..... và yêu cầu các bị hại chuyển tiền cho bị cáo. Bị cáo còn chuyển trả một số bị hại một số tiền nhỏ để lấy lòng tin của bị hại để các bị hại tiếp tục chuyển tiền cho bị cáo. Bị cáo có làm công việc tự do và có thu nhập đủ để nuôi sống bản thân. Bị cáo không lấy các lần phạm tội đó làm nghề sinh sống, không sử dụng tiền chiếm đoạt được của các bị hại làm nguồn sống chính. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của 10 bị hại, bị cáo sử dụng chủ yếu vào việc chơi game trên mạng internet. Sau khi bị tạm giam, bị cáo có tác động gia đình bồi thường cho chị M2 được 5.000.000đồng và nộp số tiền 2.000.000đồng cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương để bồi thường cho chị M2. Bị cáo không bị oan. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Đàm Thanh T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; Xử phạt bị cáo Đàm Thanh T từ 12 đến 13 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại theo quy định, đối trừ số tiền bị cáo đã chuyển lại cho các bị hại và bồi thường để khắc phục hậu quả; Về vật chứng: Tịch thu,
phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6; Tịch thu, cho tiêu hủy 03 (ba) sim điện thoại V3; 01 (một) thẻ ngân hàng V1 của bị cáo. Thông báo cho Ngân hàng thương mại cổ phần C3 xử lý đối với số tài khoản (106866836808); Ngân hàng thương mại cổ phần K2 xử lý đối với số tài khoản (19033634256012) theo quy định. Thông báo cho Tổng Công ty V4 (V3) thu hồi hai số thuê bao điện thoại. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: đồng ý với Luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo Đàm Thanh T đã thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2023 đã chiếm đoạt số tiền 743.756.000 đồng của 10 người trú tại tỉnh Hải Dương và các tỉnh thành khác. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường cho chị M2 số tiền 5.000.000đồng và nộp cho C2 thi hành án dân sự số tiền 2.000.000đồng để bồi thường cho chị M2; đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Người bị hại là anh D1 xin giảm nhẹ cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình, tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đã làm cho các bị hại bị tổn thất nhiều. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình, bị cáo đi làm để có tiền trả cho các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.1]. Một số bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[1.2]. Đối với chị Lò Thu H1 nhận số tiền 23.100.000 đồng từ bị cáo T. Trước khi xét xử vụ án được xác định với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên căn cứ lời khai của chị H1 và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định số tiền bị cáo chuyển không lớn, mục đích sử dụng để đóng góp nuôi con chung. Hiện nay chị H1 và bị cáo đã ly hôn nên xét thấy chị H1 không có nghĩa vụ hoàn trả lại tiền cho bị hại theo Điều 167 của Bộ luật Dân sự là phù hợp và không phải là người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án này, Tòa án xác định lại tư cách tham gia tố tụng của chị H1 là người làm chứng trong vụ án.
[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2023, Đàm Thanh T sử dụng các tài khoản Facebook mang tên “Anh M2”, “Triệu Tử Long” đưa thông tin gian dối trên các nhóm Facebook như “Kinh Dịch Hội”, “Luận quẻ Kinh Dịch” về việc T có khả năng cúng để chữa bệnh, tìm người thân bị mất tích, tìm chó mèo bị lạc; làm thủ tục lấy đồ ở sân bay bị thất lạc, ... để những người bị hại tin tưởng chuyển tiền qua tài khoản cho T. Bằng thủ đoạn này, T đã chiếm đoạt được 743.756.000đồng của 10 người bị hại. Cụ thể: chiếm đoạt của chị Lê Thị M 86.383.000 đồng; chị Lê Thị N 489.767.000 đồng; chị Đinh Thị Thu H2 90.318.000 đồng; chị Nguyễn Thị Hoài T2 11.534.000 đồng; chị Trần Thị Bích D3 5.452.000 đồng; anh Đỗ Đức D1 31.771.000 đồng; chị Trần Đinh Bích T3 10.900.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thanh M1 8.879.000 đồng; chị Nguyễn Thị Kim T4 5.251.000 đồng và chị Phan Thị Hồng N1 3.501.000 đồng. Cùng trong thời gian trên, để tạo niềm tin cho các bị hại tiếp tục chuyển tiền cho T, T chuyển lại tổng số tiền 25.704.000 đồng cho các bị hại gồm: chị N 14.727.000 đồng, chị H2 1.036.000 đồng, chị T2 21.000 đồng, anh D1 9.920.000 đồng. Số tiền còn lại 718.052.000 đồng T khai sử dụng để đánh bạc trên mạng Internet và chi tiêu cá nhân.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của các bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân không có khả năng gì về các lĩnh vực: cúng để chữa bệnh, tìm người thân bị mất tích, tìm chó mèo bị lạc; làm thủ tục lấy đồ ở sân bay bị thất lạc ... nhưng đã cố ý đưa ra các thông tin gian dối để những người bị hại tin tưởng chuyển tiền qua tài khoản cho T. Tổng số tiền T chiếm đoạt của các bị hại là 743.756.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3]. Về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo lần đầu phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình; đã bồi thường 5.000.000 đồng cho chị M và nộp 2.000.000 đồng để tiếp tục bồi thường cho chị M. Người bị hại là anh D1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với số tiền 25.704.000 đồng bị cáo chuyển cho các bị hại mục đích tạo niềm tin làm cho các bị hại tiếp tục chuyển tiền cho mình (chị N 14.727.000 đồng, chị H2 1.036.000 đồng, chị T2 21.000 đồng, anh D1 9.920.000 đồng) nên không xác định là bị cáo khắc phục hậu quả. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương cho rằng bị cáo bồi thường số tiền rất ít so với số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng điểm b khoản 1 mà áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là chưa phù hợp.
[4]. Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
[6.1]. Đối với số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại, bị cáo chuyển cho chị Lò Thu H1 như đã nhận định tại mục [1.2], Hội đồng xét xử không buộc chị H1 phải hoàn trả cho các bị hại là phù hợp.
[6.2]. Đối với chị Đàm Thị L thay bị cáo bồi thường cho chị M số tiền 5.000.000đồng, nộp cho C2 thi hành án dân sự 2.000.000đồng để khắc phục hậu quả thay bị cáo khi được bị cáo tác động. Chị L không có yêu cầu gì đối với số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6.3]. Bị cáo chiếm đoạt của các bị hại cụ thể như sau: Chiếm đoạt của chị Lê Thị M 86.383.000 đồng; chị Lê Thị N 489.767.000 đồng; chị Đinh Thị Thu H2 90.318.000 đồng; chị Nguyễn Thị Hoài T2 11.534.000 đồng; chị Trần Thị Bích D3 5.452.000 đồng; anh Đỗ Đức D1 31.771.000 đồng; chị Trần Đinh Bích T3 10.900.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thanh M1 8.879.000 đồng; chị Nguyễn Thị Kim T4 5.251.000 đồng và chị Phan Thị Hồng N1 3.501.000 đồng. Các bị hại yêu cầu bị cáo phải trả số tiền đã chiếm đoạt của họ sau khi đã đối trừ số tiền mà bị cáo chuyển cho các bị hại như: chị N 14.727.000 đồng, chị H2 1.036.000 đồng, chị T2
21.000 đồng, anh D1 9.920.000 đồng. Chị L đã bồi thường thay bị cáo cho chị M 5.000.000đồng và nộp 2.000.000đồng cho Chi cục thi hành án dân sự để bồi thường cho chị M. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại. Căn cứ quy định tại các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự, HĐXX chấp nhận yêu cầu của các bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại số tiền bị cáo chưa trả được cho các bị hại.
[7]. Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng vàng, đã qua sử dụng, số IMEI 358361064946704 là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước. Đối với 02 (hai) sim điện thoại; 01 (một) thẻ ngân hàng V1, mã thẻ 9704151501781802 mang tên DAM THANH TUNG bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; 01 sim điện thoại bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nhưng bị cáo không yêu cầu được nhận lại. Các đồ vật này đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, cho tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8]. Về án phí: Bị cáo bị kết án và phải bồi thường cho bị hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định.
[9]. Về các vấn đề khác:
[9.1]. Đối với chị Lò Thu H1 nhận số tiền 23.100.000 đồng do T chuyển khoản nhưng không biết nguồn gốc của số tiền nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
[9.2]. Đối với việc T khai sử dụng số tiền 694.952.000 đồng đánh bạc trên các trang website chơi trò chơi trực tuyến và 21 số tài khoản chuyển tiền đến số tài khoản của Đàm Thanh T chưa có kết quả trả lời ủy thác, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Quyết định số 516 ngày 19/4/2024 tách hành vi, tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh, làm rõ khi có căn cứ thì thụ lý giải quyết sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Thanh T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
2. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Xử phạt: Bị cáo Đàm Thanh T 12 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2023.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
5. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 711.052.000đồng, cụ thể như sau:
- Bồi thường cho chị Lê Thị M, sinh năm 1983; địa chỉ: đường T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, số tiền 79.383.000 đồng. Chị M được nhận số tiền 2.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai số 0002858 ngày 16 tháng 4 năm 2024, (do chị Đàm Thị L nộp).
- Bồi thường cho chị Lê Thị N, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Quảng Nam, số tiền 475.040.000 đồng.
- Bồi thường cho chị Đinh Thị Thu H2, sinh năm 1988; địa chỉ: số A Cầu C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, số tiền 89.282.000 đồng.
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Hoài T2, sinh năm 1988; địa chỉ: N, M, thị xã B, tỉnh Bình Dương, số tiền 11.513.000 đồng.
- Bồi thường cho chị Trần Thị Bích D3, sinh năm 2002; địa chỉ: Số G đường A, KP4 phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, số tiền 5.452.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Đỗ Đức D1, sinh năm 2002; địa chỉ: T, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh, số tiền 21.771.000đồng.
- Bồi thường cho chị Trần Đinh Bích T3, sinh năm 2001; địa chỉ: số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, số tiền 10.900.000 đồng;
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh M1, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên, số tiền 8.879.000 đồng;
- Bồi thường cho chị chị Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm 1986; địa chỉ: thôn T, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, số tiền 5.251.000 đồng;
- Bồi thường cho chị chị Phan Thị Hồng N1, sinh năm 2001; điạ chỉ: khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ, số tiền 3.501.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
6. Về vật chứng: Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng vàng, đã qua sử dụng, số IMEI 358361064946704; Tịch thu, cho tiêu hủy 03 (ba) sim điện thoại; 01 (một) thẻ ngân hàng V1, mã thẻ 9704151501781802 mang tên DAM THANH TUNG.
Đặc điểm của vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương ngày 21/05/2024.
7. Về án phí: Buộc bị cáo Đàm Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 32.442.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền khác cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Hằng |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đàm Thanh T
