Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST

Ngày 05/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nam Văn và bà Trương Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thụy C - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2023/TLST - HS ngày 06 tháng 12 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXX-HSST ngày 15 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Lại Văn B; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 15/12/1989, tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông Lại Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: chưa có.

    Nhân thân: Ngày 26/12/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” đến ngày 31/8/2015 được đặc xá trở về địa phương; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 14/6/2023, bị Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/9/2023 đến ngày 14/9/2023 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Lê Văn H; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 08/3/1983, tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông Lê Đình Q và bà Phạm Thị X; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị B1 - sinh năm 1986 và có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/9/2023 đến ngày 14/9/2023 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

  1. Ông Phạm Bá T2 - sinh năm 1955
  2. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Ông Phạm Lê T3 - sinh năm 1964
  4. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, Lê Văn H, sinh năm 1983, cư trú ở thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, dùng điện thoại REDMI màu đen cũ gắn sim số 0382655207, gọi đến số 0359452342 của Lại Văn B, sinh năm 1989, ở thôn T, xã T, huyện H hỏi B “ Có còn đồ không để cho anh một ít” (ý H hỏi B còn ma tuý không bán cho H một ít”. B trả lời: “em còn một ít” và B hẹn H giao ma tuý tại khu vực bên hông trường Trung học phổ thông H1, thuộc thôn T, xã T, Huyện H. Khoảng 09 giờ 45 phút, H đi bộ đến điểm hẹn thì đã thấy Lại Văn B đi xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, BKS 36B4-387.82 màu xanh, bạc đến đưa cho H 01 gói nhỏ ma túy, H đưa cho B 90.000 đồng. H mua ma tuý nhằm mục đích để sử dụng rồi đi về.

Khoảng 10 giờ cùng ngày, H đang đi bộ về nhà thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện H kiểm tra. Khi gặp Tổ công tác thì H đã thả gói ma túy xuống mặt đường, sau đó tự nguyện nhặt lên giao nộp và khai nhận đó là ma túy, Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H về hành vi đang Tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy ở tay; thu giữ và niêm phong 01 gói ni lon mầu trắng, bên trong gói bằng giấy có chứa chất bột mầu trắng dạng cục vụn và 01 điện thoại REDMI màu đen cũ gắn sim số 0382655207 (niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, M2). Tổ công tác đã mời đại diện chính quyền địa phương và ông Phạm Bá T2, sinh năm 1955 ở thôn T, xã T, huyện H; ông Phạm Lê T3, sinh năm 1964 cư trú ở thôn T, xã T, huyện H chứng kiến.

Cùng ngày 08/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Lại Văn B. Quá trình khám xét đã thu giữ 01 túi nilon mầu trắng, KT (02 x 02) cm, bên trong đựng chất bột mầu trắng lẫn chất bột màu hồng (niêm phong ký hiệu M3); 01 điện thoại di động Nokia N1280, màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0359452342; 90.000 đồng (tiền bán ma túy cho H mà có) do B đã tự nguyện giao nộp và khai nhận đó là ma túy. Quá trình khám xét, thu giữ và niêm phong vật chứng (trong các phong bì ký hiệu M4, M5) theo quy định, Tổ công tác đã mời đại diện chính quyền địa phương và ông Phạm Bá T2; ông Phạm Lê T3 chứng kiến. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn H nhưng không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ việc.

Ngày 08/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trưng cầu phòng K - Công an tỉnh T giám định về số ma túy thu giữ được. Bản kết luận giám định số 3208/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • - Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,125g (không phẩy một hai năm gam) loại: Heroine.
  • - Chất bột màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,133g (không phẩy một ba ba gam) loại: Heroine, Methamphetamine.

Lê Văn HLại Văn B đều đồng ý với Kết luận giám định, không ai có ý kiến hay đề nghị gì.

Nguồn gốc số ma túy Lại Văn B có để bán cho Lê Văn H và giao nộp cho lực lượng Công an, B khai nhận là khoảng 09 giờ 00 phút ngày 06/9/2023, B đến khu vực eo núi giáp danh xã C và xã T gặp một nam thanh niên tên là S mua 01 viên hồng phiến với giá 100.000 đồng, B sử dụng nửa viên và khoảng 09 giờ 00 phút ngày 08/9/2023, B một mình đi xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, BKS 36B4-387.82 màu xanh, bạc đến khu vực B mua ma túy ngày 06/9/2023 gặp một nam thanh niên tên là S, cao khoảng 1m60, khoảng 30 tuổi, mặc áo chống nắng màu nâu, đội mũ, đeo khẩu trang, B mua với giá 200.000 đồng. B chia ra bán cho H một nửa, còn lại Bình trộn với nửa viên hồng phiến để sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ .

Cùng ngày 15/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xác minh, rà soát, xác định hệ thống Camera an ninh tại khu vực eo núi giáp danh xã C và xã T nhưng không có Camera an ninh công cộng và Camera an ninh của các hộ gia đình và không có người tên là S có đặc điểm như trên. Quá trình xác minh, Tổ công tác đã mời đại diện chính quyền địa phương và Trưởng thôn Cầu thôn chứng kiến.

Lê Văn HLại Văn B đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; lời khai nhận tội phù hợp với các tài liệu đã được điều tra, thu thập trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì ma túy đã niêm phong sau giám định, 01 điện thoại di động nhãn hiệu nokia N1280 màu đen cũ, đã qua sử dụng gắn sim số: 0359452342 của Lại Văn B và 01 điện thoại REDMI, màu đen cũ, đã qua sử dụng (bị vỡ màn hình) gắn sim số 0382655207 được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc. Số tiền 90. 000đ (Chín mươi nghìn đồng) được gửi vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc mở tại Kho bạc Nhà nước huyện H, chờ xử lý.

* Tại bản cáo trạng: 04/CT-VKSHL ngày 05/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lại Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về các tội danh, điều luật nêu trên. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lại Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Lại Văn Bình.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Lê Văn H.

Xử phạt: Bị cáo Lại Văn B từ 33 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (08/9/2023).

Bị cáo Lê Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (08/9/2023).

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy một phong bì ma túy đã niêm phong sau giám định. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia N1280 màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0359452342 của Lại Văn B và 01 điện thoại REDMI màu đen cũ, đã qua sử dụng (bị vỡ màn hình) gắn sim số 0382655207 của Lê Văn H và số tiền 90.000₫ (Chín mươi nghìn đồng) do phạm tội mà có.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng trên.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai báo và nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời trình bày của những người chứng kiến, phù hợp với nội dung của các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. HĐXX, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 08/9/2023 tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra về tội phạm về kinh tế - Ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã kiểm tra, phạt hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn H về hành vi đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ và niêm phong 01 gói ni lon màu trắng, bên trong gói bằng giấy có chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn. Lê Văn H khai nhận đó là ma túy vừa mua trước đó của Lại Văn B với giá 90.000đ nhằm mục đích để sử dụng. Quá trình bắt giữ quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng (trong phong bì ký hiệu M1) và 01 điện thoại REDMI.

Cùng ngày 08/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lại Văn B thu giữ 01 túi nilon màu trắng, kích thước (02 x 02) cm, bên trong đựng chất bột màu trắng lẫn chất bột màu hồng (niêm phong ký hiệu M3), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia N1280, số tiền 90.000đ (tiền bán ma túy cho H mà có)

Tại bản kết luận giám định số: 3208/KL - KTHS ngày 11/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,125g (không phẩy một hai năm gam) loại Heroine. Chất bột màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,133g (không phẩy một ba ba gam) loại Heroine, M.

Như vậy, hành vi của Lê Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; hành vi của Lại Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, còn có hành vi của người đàn ông lạ mặt có tên là S đã bán trái phép ma túy cho Lại Văn B. Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được nên đã tách hồ sơ tiếp tục xác minh và xử lý sau là phù hợp.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại EXCITER, BKS 36B4-387.82, màu xanh, bạc mà B dùng làm phương tiện đi bán ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh chủ sở hữu là xe của anh Lại Văn M1, mua lại của anh Bùi Đình C1 - sinh năm 1992 ở địa chỉ thôn H, xã Q, huyện H (xe chưa sang tên). Anh M1 để xe ở nhà bị cáo Lại Văn B nên B lấy sử dụng, anh Lại Văn M1 không biết, quá trình làm việc Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H không thu giữ xe và không xem xét xử lý đối với anh Lại Văn M1 là phù hợp.

[3]. Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo Lại Văn B, Lê Văn H đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội; hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là mối hiểm họa làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất và tinh thần của con người, làm thui chột thế hệ tương lai và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội pham khác. Do vậy, cần phải được xét xử nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Trong vụ án các bị cáo Lại Văn BLê Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Lại Văn BLê Văn H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Đối với bị cáo Lại Văn B có nhân thân xấu và có 01 tiền sự. Do vậy, từ những nhận định trên, HĐXX cần lên cho mỗi bị cáo một mức hình phạt tù nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo. Song HĐXX cũng xem xét đến tình tiết giảm nhẹ TNHS mà các bị cáo được hưởng để lượng giảm cho các bị cáo một phần hình phạt, để các bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề lao động tự do thu nhập không ổn định. Do đó, HĐXX không áp dụng khoản 5 (Điều 249, Điều 251) Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

[6]. Về vật chứng: HĐXX nhận thấy cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước vật, công cụ, phương tiện, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7]. Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với các bị cáo tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, lời nói sau cùng của các bị cáo xin HĐXX xử phạt mức án thấp để các bị cáo chấp hành và cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, làm công dân chấp hành pháp luật tốt. Đối với người chứng kiến: trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến.

[8]. Về án phí: Buộc các bị cáo Lại Văn B, Lê Văn H phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lại Văn B.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn H.

Tuyên bố: Bị cáo Lại Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lại Văn B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (08/9/2023).

Bị cáo Lê Văn H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (08/9/2023).

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định, ghi Phòng K Công an tỉnh T, có đóng dấu đỏ và ký tên (Vũ Văn L và Nguyễn Trần Đ); Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0359452342 của Lại Văn B và 01 điện thoại REDMI màu đen đã qua sử dụng (bị vỡ màn hình và vỡ phần lưng) gắn sim số 0382655207. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 90.000đ (Chín mươi nghìn đồng) theo ủy nhiệm chi lập ngày 05/12/2023 tại kho bạc Nhà nước huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Các bị cáo Lại Văn BLê Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hậu Lộc
  • - Công an huyện Hậu Lộc
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2023/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 64/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger