|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày: 04/6/2024 |
Bà Rịa. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Chu Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Khoa
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Như Điểm – Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Phùng Hoàng N, sinh năm 1996 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F Đường F, khu phố E, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S, sinh năm 1969 và bà Phùng Thị Tuyết H, sinh năm 1966; Gia đình có 02 (hai) anh em, bị cáo là con đầu; Chưa có vợ con;
Tiền án: Năm 2022, bị xử phạt 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 30/2022/HS-ST ngày 31/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh); chấp hành xong ngày 02/11/2022.
Tiền sự: Không
Bị bắt ngày 14/01/2024 (có mặt).
Bị hại:
1/ Huỳnh Thị L, sinh năm 1992, HKTT: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: A P, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2/ Trần Thị H1, sinh năm 1993, HKTT và chỗ ở: Tổ G, ấp N, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn S, sinh năm 1969, địa chỉ: Số F Đường F, khu phố E, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 04/01/2024, Trần Phùng Hoàng N sử dụng xe Wave loại RSX biển số 59B-992.90 đứng tên ông Trần Văn S (sinh năm 1969, địa chỉ: Số F Đường F, khu phố E, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh – là bố của N) đi từ thành phố Hồ Chí Minh xuống thành phố V để bốc xếp hàng cho xe tải. Sau khi xong việc, N đến thành phố B và đi vào khu vực xã H thì phát hiện nhà bà Trần Thị H1 khóa cửa ngoài không có người trông coi. N dừng xe trước cổng, lấy cây sắt cạy phá khóa cửa cổng sau đó dắt xe máy của N vào sân, đầu xe quay ra cửa. N dùng cây sắt tiếp tục cạy cửa chính rồi đi vào nhà thì thấy có camera để trên tủ. N đi đến tắt cầu dao điện để camera không hoạt động và lấy trộm camera bỏ vào ba lô rồi đi tiếp vào phòng ngủ. Nhân mở cửa tủ thì phát hiện một con heo đất. N bỏ con heo đất lên nệm giường ngủ đập bể thì thấy trong con heo có tiền với nhiều mệnh giá khác nhau. N không đếm mà gom hết bỏ vào ba lô rồi lấy xe bỏ đi. N đi cách nhà khoảng 20 mét thì dừng lại, lấy camera ném vào bụi cây bên đường sau đó chạy về thành phố Hồ Chí Minh. N dừng lại dọc đường kiểm đếm tiền thì thấy tiền có nhiều loại mệnh giá khác nhau như 100.000 đồng, 200.000 đồng, 50.000 đồng, 10.000 đồng, 5.000 đồng. Tổng số tiền hơn 3.000.000 (ba triệu) đồng.
Ngoài ra, khoảng 11 giờ ngày 25/6/2023, N cũng sử dụng xe Wave loại RSX biển số 59B-992.90 đi từ thành phố Hồ Chí Minh xuống thành phố B để trộm cắp tài sản. N đi vào khu dân cư gần bệnh viện B thuộc phường L, thành phố B thì phát hiện nhà bà Huỳnh Thị L mới xây xong, cửa cổng có ổ khóa bên ngoài, cửa trong nhà không khóa. N dừng xe trước cổng, lấy cây sắt mang theo phá khóa cổng và đưa xe đi vào trong sân, quay đầu xe ra ngoài, mục đích để chạy khi có người phát hiện. Khi vào trong nhà thì thấy trên bàn thờ để giữa nhà có một phong bì màu trắng nên N lấy bỏ vào ba lô. N tiếp tục đi lên trên lầu, khi vào phòng đầu tiên ngay cầu thang mở cửa nên đi vào trong phát hiện một con heo đất để trên bàn trang điểm, N đập vỡ heo đất phát hiện có nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau. N gom tiền bỏ vào ba lô rồi tiếp tục mở ngăn tủ bàn thì phát hiện 06 (sáu) cái nhẫn vàng nên lấy bỏ vào ba lô. Sau đó, N đi xuống cầu thang để ra về. Lúc này, N thấy chủ nhà về và khóa cửa ngoài nên N dùng thân người húc vào cổng thì bung khóa cửa. N lên xe, nổ máy và bỏ chạy thẳng về thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường về, N đếm tiền được 1.000.000 (một triệu) đồng, bên trong phong bì có 2.000.000 (hai triệu) đồng, ghé vào cửa hàng vàng ven đường thuộc tỉnh Đồng Nai (N không nhớ địa chỉ), bán hết số nhẫn vàng được 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng và đi về. Cây sắt N đã vứt bỏ trên đường về nhà.
Ngày 14/01/2024, Trần Phùng Hoàng N đến Công an thành phố B đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 25/6/2023 tại nhà của chị Trần Thị H1.
Đồ vật, tài liệu tạm giữ:
- - 01 (một) Camera HIKVISION, Model: DS-2CV2Q01EFD-IW; 2.8mm; I/P 5V-1.4A, 7WWSN: 214556071 màu trắng đen, Trần Phùng Hoàng N ném vào bụi cây được chồng chị H1 tìm lại tại bụi cây gần nhà, chị H1 đã giao nộp cho cơ quan công an.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 59B-992.90, số khung RLHJA 3854KY008383, số máy JA52E0021539;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu ASUS Zenfone 9, số IMEI 1 351694450214551, số IMEI 2 351694450214569.
Tại Kết luận định giá tài sản số 39 ngày 07/02/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố B xác định: 01 (một) Camera HIKVISION, Model: DS-2CV2Q01EFD-IW trị giá 233.000 (hai trăm ba mươi ba nghìn) đồng; 01 (một) nhẫn vàng 18K viền chữ H, trọng lượng 01 chỉ, 02 phân, 06 ly do N trộm trị giá 4.250.000 (bốn triệu, hai trăm năm mươi nghìn) đồng; đối với 05 (năm) nhẫn vàng còn lại, do không rõ trọng lượng (chưa thu hồi), Hội đồng định giá từ chối việc định giá tài sản.
Xử lý vật chứng:
- - Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị H1 01 (một) Camera HIKVISION, Model: DS-2CV2Q01EFD-IW.
- - Quá trình điều tra, xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 59B-992.90 do ông Trần Văn S (là bố của N) đứng tên sở hữu. Hằng ngày, N sử dụng chiếc xe này để đi làm nên ông S không biết N dùng xe để đi trộm cắp tài sản. Đây là tài sản hợp pháp của ông S nên ngày 31/3/2024, CQĐT Công an thành phố B đã trả lại xe cho ông S.
- - Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu ASUS Zenfone 9, số IMEI 1 351694450214551, số IMEI 2 351694450214569.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà R đã ra quyết định chuyển vật chứng còn lại cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản, chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn S đã bồi thường cho bà Trần Thị H1 số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng, bồi thường cho bà Huỳnh Thị L số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng. Các bị hại không có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số 62/CT-VKSBR ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Trần Phùng Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Trần Phùng Hoàng N; khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo
là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Phùng Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại chiếc ĐTDĐ đã thu giữ cho bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo chỉ đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha mẹ bị cáo đều đã già, mẹ bị cáo đang điều trị bệnh ung thư, cha bị cáo bị tai nạn dẫn đến mất sức lao động, em bị cáo sinh năm 2008 hiện vẫn đang đi học. Do cuộc sống thiếu thốn, công việc không ổn định, bấp bênh, việc tái hòa nhập cộng đồng sau lần phạm tội trước khó khăn nên trong lúc nghĩ quẩn, bị cáo lại một lần nữa phạm tội. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần mức án để bị cáo sớm trở về lo cho gia đình, trở thành người có ích cho xã hội.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- [1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời trình bày tại cơ quan điều tra; bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không cản trở việc xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Nhắm đến những căn nhà nằm ở khu vực thưa dân cư, lợi dụng lúc chủ nhà đi vắng, Trần Phùng Hoàng N đã sử dụng cây gây sắt để phá khóa để đột nhập vào nhà của người dân nhằm chiếm đoạt tài sản lấy tiền tiêu xài. Với cách thức và thủ đoạn như trên, Trần Phùng Hoàng N đã thực hiện thành công 02 (hai) vụ trộm cắp, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ ngày 25/6/2023, Trần Phùng Hoàng N đột nhập vào căn nhà ở số A P, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để trộm cắp của bà Huỳnh Thị L số tiền mặt 3.000.000 (ba triệu) đồng và 06 (sáu) chiếc nhẫn màu vàng trong đó có 01 (một) chiếc nhẫn được xác định là bằng vàng 18K có trọng lượng 01 chỉ, 02 phân, 06 ly trị giá 4.258.000 (bốn triệu, hai trăm năm mươi tám nghìn) đồng. 05 (năm) chiếc nhẫn còn lại do không định giá được nên không có căn cứ để xử lý. Tổng tài sản N đã chiếm đoạt của bà L là 7.258.000 (bảy triệu, hai trăm năm mươi tám nghìn) đồng.
Lần thứ hai: Vào khoảng 11 giờ ngày 04/01/2024, Trần Phùng Hoàng N đã đột nhập vào căn nhà ở địa chỉ tổ G, ấp N, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để trộm cắp của bà Trần Thị H1 01 (một) Camera HIKVISION trị giá 233.000 (hai trăm, ba mươi ba nghìn) đồng và số tiền mặt với nhiều mệnh giá gồm 5.000 đồng, 10.000 đồng, 50.000 đồng, 100.000 đồng và 200.000 đồng. Bà Trần Thị Hồng t xác định số tiền mặt bị mất là khoảng 3.000.000 (ba triệu) đồng còn bị cáo thừa nhận số tiền mặt bị cáo chiếm đoạt sau khi kiểm đếm có giá trị hơn 3.000.000 (ba triệu) đồng. Giá trị tiền mặt được xác định là 3.000.000 (ba triệu) đồng là có căn cứ. Như vậy, tổng tài sản N đã chiếm đoạt của bà Trần Thị H1 là 3.233.000 (ba triệu, hai trăm ba mươi ba nghìn) đồng.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức, có sức khỏe, có công việc nhưng không chịu khó làm ăn lại vì lòng tham nhất thời mà bất chấp hậu quả. Hành vi của bị cáo gây mất an ninh trật tự địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [4.1] Tình tiết tăng nặng: Thời điểm phạm tội, bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm”; bị cáo phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo đã chủ động tác động người thân bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo chủ động đầu thú. Bị hại có đơn
xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, khi xem xét, đánh giá về lần phạm tội trước của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, ở lần phạm tội trước, bị cáo cũng sử dụng cách thức, phương thức phạm tội tương tự, thực hiện 02 lần hành vi trộm cắp tài sản. Tại lần xét xử trước, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tuy nhiên, sau khi chấp hành án chưa được bao lâu, bị cáo tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức chấp hành pháp luật, mức độ ăn năn hối cải của bị cáo. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động hiệu ASUS Zenfone 9 đã thu giữ của bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Phùng Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo N 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (14/01/2024)
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo N 01 (một) điện thoại di động hiệu ASUS Zenfone 9, số IMEI 1 351694450214551, số IMEI 2 351694450214569.
Thực hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 79 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (04/6/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về phần
liên quan của bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Thanh Tâm |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp nhiều vụ, tái phạm
