|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 64/2024/DSST Ngày: 03 – 6 – 2024. “ V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Mỡn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Trần Văn Lập.
- 2/ Bà Trần Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V không tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 439/2023/TLST - DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXX - ST ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Võ Thị V – sinh năm: 1957 (Có mặt).
- Địa chỉ cư trú: ấp Hiếu Xuân Tây, xã Hiếu Thành, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- - Bị đơn: Chị Trần Thị N – sinh năm: 1988 (Vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: ấp Hiếu Xuân Tây, xã Hiếu Thành, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị V trình bày: Bà là đầu thảo hụi còn chị N là hụi viên. Chị N tham gia của bà 01 dây hụi tháng 5.000.000₫ mở ngày 12/6/2020 mãn hụi ngày 12/01/2022, tiền huê hồng cho đầu thảo là 2.500.000đ, hụi có 20 phần, chị N tham gia một phần. Chị N hốt hụi ở lần khui hụi đầu tiên được số tiền là 64.000.000đ (đã trừ tiền huê hồng). Sau đó chị N không đóng hụi chết lại bà. Bà đã choàng tiền hụi cho chị N 19 lần với số tiền là 95.000.000đ hụi đến nay đã mãn lâu rồi chị N vẫn không trả lại số tiền trên cho bà. Nay bà yêu cầu chị Trần Thị N phải có nghĩa vụ trả tiền nợ hụi cho bà là 95.000.000₫ (Chín mươi lăm triệu đồng). Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.
Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ chị Trần Thị N lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Bà V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa bà V và chị N. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.
[1.1] Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.
[1.2] Bị đơn chị Trần Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về nội dung vụ án: Bà V là chủ thảo dây hụi tháng 5.000.000đ khui ngày 12/6/2020 mãn hụi ngày 12/01/2022 dây hụi này chị N có tham gia một phần và hốt hụi lần khui đầu tiên. Sau khi bà V giao hụi đến lần khui thứ hai thì chị N không đóng lại hụi chết, bà V phải choàng hụi cho chị N 19 lần x 5.000.000₫ = 95.000.000đ. Trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án có tống đạt các văn bản tố tụng và gửi các tài liệu chứng cứ cho chị N nhưng phía chị N vẫn cố tình lánh mặt không đến Tòa án trình bày ý kiến cũng như yêu cầu của mình. Bà V có nộp biên nhận nhận tiền hụi và danh sách hụi bản chính cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là những tình tiết, sự kiện nguyên đơn không phải chứng minh.
[3.1] Trong hợp đồng góp hụi nêu trên bà V đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là giao đủ số tiền mà chị N đã hốt được hụi, sau khi nhận tiền chị N không thực hiện nghĩa vụ của mình là đóng lại hụi chết theo mỗi kỳ khui hụi tiếp theo làm cho quyền lợi của bà V bị thiệt hại vì bà V là chủ thảo phải có trách nhiệm choàng và giao đủ cho người tiếp theo được hốt hụi. Chị N đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên hợp và hòa giải và quyết định xét xử lần thứ hai của Tòa án nhưng chị N vẫn không đến Tòa án trình bày có hay không việc tham gia hụi nêu trên. Đều này đồng nghĩa với việc chị N đã thừa nhận vì không có ý kiến phản bác. Nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V là có căn cứ phù hợp theo quy định tại Điêu 471 Bộ luật dân sự.
[4] Từ những căn cứ nêu trên xác định đã có đủ cơ sở buộc chị N có trách nhiệm trả cho bà V số tiền nợ hụi là 95.000.000đ.
[5] Án phí sơ thẩm: Buộc chị N phải nộp số tiền 4.750.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26, Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 471 Bộ luật dân sự 2015; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ – CP ngày 19/02/2019 quy định về họ, hụi, biêu, phường; điểm d khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị V.
Buộc chị Trần Thị N có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị V số tiền nợ hụi là 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng).
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí sơ thẩm:
- + Buộc chị Trần Thị N phải nộp án phí là 4.750.000₫ (Bốn triệu bảy trăm năm chục ngàn đồng).
- + Bà Võ Thị V không phải nộp án phí do là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Mỡn |
Bản án số 64/2024/DSST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 64/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HỤI
