Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày         : 02/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trọng Thái

Bà Nguyễn Thị Huỳnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm -

là thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 tháng 7 và ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Vũ L sinh năm: 1998 tại Cà Mau; Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nơi ở hiện nay: A Đ, xã P, huyện N, TP HCM; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Phạm Thị T; vợ: Lê Thị G (có 01 con sinh năm 2024); tiền án: không; tiền sự: không; Bị bắt phạm tội quả tang ngày 26/12/2023; tạm giữ ngày 27/12/2023; tạm giam ngày 30/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận P (có mặt).
  2. Lương Thị Bích T1 sinh năm: 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 229 Lô A, chung cư N, Phường A, Quận C, TP HCM; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn C (chết) và bà Châu Thị C1; chưa có chồng (có 01 con sinh năm 2019); Tiền sự: không; Tiền án: 01. Bản án số 42/2023/HSST ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị bắt phạm tội quả tang ngày 26/12/2023; tạm giữ ngày 27/12/2023; tạm giam ngày 30/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận P (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Phan Thị Kim C2 năm: 1970

Địa chỉ: 2 N, Phường E, quận P, TP H.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 10 phút ngày 26/12/2023, tại trước nhà số B P, Phường G, quận P, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an quận P đang đi tuần tra thì phát hiện Nguyễn Vũ L điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 54R3-0795 chở Lương Thị Bích T1 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra người và xe, Công an phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải, phía trước của T1 đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, tại baga giữa xe có 01 ba lô màu đen in chữ Boom Bayah, bên trong ngăn nhỏ bên phải của ba lô có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. L và T1 đều khai là ma túy tổng hợp mang đi bán cho con nghiện. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của L và T1, Công an không thu giữ đồ vật gì. Qua xét nghiệm thì L và T1 đều dương tính với chất ma túy tổng hợp.

Tại Cơ quan điều tra, L và T1 cùng khai nhận: L và T1 có mối quan hệ bạn bè với nhau khoảng 6 năm. Tối ngày 25/12/2023 có người bạn của T1 quen ngoài xã hội (có tài khoản Zalo tên Thanh T2, không rõ nhân thân, lai lịch), điện thoại cho T1 nói có người nhờ mua dùm 500.000 đồng ma túy và có thể mua thêm 25 số ma túy thì T1 nói đang bận nên T2 liên lạc với L hỏi mua ma túy.

Sáng ngày 26/12/2023 tại dưới chân cầu P, Quận G thì L và T1 gặp nhau, L đưa cho T1 500.000 đồng để T1 đi chuộc điện thoại và L nhờ T1 lấy giấy tờ cá nhân của L ở tiệm cầm đồ trên Quận A (không rõ địa chỉ). Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, T1 chạy xe máy hiệu Honda Airblade biển số 54R3-0795 đến gặp L thì T2 gọi điện thoại cho L, T1 hỏi mua ma túy nên cả hai nảy sinh ý định mua ma túy bán lại kiếm lời. L chở T1 đi qua đường X, Quận D mua gói ma túy đá của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.000.000 đồng. Tiền mua ma túy là của L bỏ ra.

Sau khi mua được gói ma túy, L chở T1 đến Khách sạn S (địa chỉ E H, Phường G, quận P) thuê phòng 301. Một lúc sau có người đàn ông (đeo khẩu trang, không rõ lai lịch) gõ cửa, T1 ra mở cửa thấy người đàn ông đưa T1 500.000 đồng, T1 nghĩ là người đàn ông mà T2 nói cần mua ma túy nên T1 lấy một ít ma túy từ gói ma túy mà L, T1 vừa mua ở Quận D rồi đưa cho người đàn ông. T1 đưa 500.000 đồng cho L, L biết đây là tiền T1 bán ma túy mà có. Sau đó, L và T1 xuống trả phòng khách sạn, lấy 500.000 đồng tiền bán ma túy mà có để trả tiền thuê phòng. Số ma túy còn lại L chia ra một ít bỏ vào miếng nylon khác rồi đưa T1 cất ở túi quần T1 đang mặc để khi có người hỏi mua thì bán, phần ma túy còn lại L cất trong ba lô T1 nhằm mục đích bán kiếm lời. Khi cả hai đang chạy đến trước nhà số B P, Phường G, quận P thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang như trên.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 gói niêm phong số 203/24 (G1) có chữ ký của Lương Thị Bích T1, Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên);
  • - 01 gói niêm phong số 203/24 (G2) có chữ ký của Nguyễn Vũ L, Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên);
  • - 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số sim 0522826601, imei 1: 860517062151784, số imei 2: 860517062151792;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Realme, số sim: 0769678314, imei 1: 865394042169215, số imei 2: 865394042169244;
  • - 01 ba lô màu đen có chữ Boom Bayah;
  • - 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển số 54R3- 0795, số khung: RLHJF18008Y815244, số máy: JF18E-5423833.

Tại Bản Kết luận giám định số 565/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

  • - Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lương Thị Bích T1, Nguyễn Vũ L, Nguyễn Nguyệt T4 (người chứng kiến), Hồ Văn T5 (người chứng kiến), Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, quận P cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3194 g (không phẩy ba một chín bốn gam), loại Methamphetamine.
  • - Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Vũ L, Nguyễn Nguyệt T4 (người chứng kiến), Hồ Văn T5 (người chứng kiến), Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, quận P cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,1352 g (bốn phẩy một ba năm hai gam ), loại Methamphetamine.

Tại Bản Cáo trạng số 51/CT-VKS.PN ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ LLương Thị Bích T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận giữ quyền công tố và tranh luận:

Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ buộc tội và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện:

Ngày 26/12/2023, các bị cáo LT1 đi qua Quận D mua 2.000.000 tiền ma túy của một người đàn ông không rõ lai lịch, về bán lại kiếm lời. Sau đó cả LT1 về thuê phòng khách sạn S (số E H, Phường G, quận P), chia ma túy ra 01 gói nhỏ và bán cho người đàn ông (không rõ lai lịch) được 500.000 đồng. Cả hai bị bắt quả tang khi đang cất giữ 02 gói ma túy, có trọng lượng 4,4546g loại Methamphetamine để bán kiếm lời.

Như vậy, Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L và áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T1, đề nghị xử phạt bị cáo L mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo T1 mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung, buộc mỗi bị cáo nộp phạt 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước. Đề nghị mỗi bị cáo nộp lại số tiền 250.000 đồng thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 gói niêm phong số 203/24 (G1) có chữ ký của Lương Thị Bích T1, Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên);
  • + 01 gói niêm phong số 203/24 (G2) có chữ ký của Nguyễn Vũ L, Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên);
  • + 01 ba lô màu đen có chữ Boom Bayah;

- Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Realme, số sim: 0769678314, imei 1: 865394042169215, số imei 2: 865394042169244 (thu giữ của L) vì có sử dụng vào mục đích phạm tội.
  • + Đối với 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển số 54R3-0795, số khung: RLHJF18008Y815244, số máy: JF18E-5423833: Thảo khai nhận xe này T1 nhận cầm cố của một người quen ngoài xã hội, không rõ lai lịch với giá 1.500.000 đồng. Qua xác minh được biết xe này do bà Phạm Thị Kim C3 đứng tên sở hữu. Bà C3 khai đã bị mất chiếc xe này nhưng bà không trình báo Công an. Nay bà C3 không yêu cầu nhận lại và đề nghị sung quỹ nhà nước. Do vậy, đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số sim 0522826601, imei 1: 860517062151784, số imei 2: 860517062151792 thu giữ của T1: Điện thoại này T1 không sử dụng vào việc phạm tội, đối tượng Thanh Trúc khi hỏi mua ma túy của T1 thì liên lạc với T1 qua điện thoại O (T1 đã làm mất, không thu hồi được) nên đề nghị trả lại cho bị cáo T1.

- Các bị cáo LT1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai của các bị cáo LT1 tại phiên tòa phù hợp với nhau, cũng như phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đồng thời cũng phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, giám định vật chứng, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 17 giờ 10 phút ngày 26/12/2023, các bị cáo LT1 bị bắt phạm tội quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Ngoài ra, vào trưa ngày 26/12/2023 có người hỏi mua ma túy (tên Z là Thanh T2, không rõ nhân thân lai lịch) nên L chở T1 qua Quận D mua 2.000.000 đồng tiền ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó cả LT1 về thuê phòng khách sạn Sạch, chia ma túy ra 01 gói nhỏ và đem bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) đến khách sạn mua với giá 500.000 đồng. Cả hai bị bắt quả tang khi đang cất giữ 02 gói ma túy, có trọng lượng 4,4546g ma túy loại Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời.

Như vậy, bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước, xây dựng nếp sống văn hóa mới mà còn tiếp tay cho bọn mua bán ma túy có điều kiện tồn tại và phát triển, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh trong xã hội. Các bị cáo đã xem thường lợi ích chung của xã hội và sự trừng trị của pháp luật để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời giúp các bị cáo cai nghiện được ma túy.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo T1 đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo khi lượng hình.

[5]. Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có tổ chức hay phân công nhiệm vụ. Tuy nhiên, xét về vai trò đồng phạm thì bị cáo L là người chủ động tìm chỗ mua ma túy để mang về bán kiếm lời, toàn bộ số tiền mua ma túy là L bỏ ra. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc xem xét mức án phù hợp đối với từng bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 gói niêm phong số 203/24 (G1) có chữ ký của Lương Thị Bích T1, Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên): Cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 gói niêm phong số 203/24 (G2) có chữ ký của Nguyễn Vũ L, Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên): Cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 ba lô màu đen có chữ Boom Bayah (thu giữ của T1, dùng đựng ma túy): Cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme, số sim: 0769678314, imei 1: 865394042169215, số imei 2: 865394042169244 (thu giữ của L) vì có sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • + Đối với 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển số 54R3-0795, số khung: RLHJF18008Y815244, số máy: JF18E-5423833: Thảo khai nhận xe này T1 nhận cầm cố của một người quen ngoài xã hội, không rõ lai lịch với giá 1.500.000 đồng. Qua xác minh được biết xe này do bà Phạm Thị Kim C3 đứng tên sở hữu. Bà C3 khai đã bị mất chiếc xe này nhưng bà không trình báo Công an. Nay bà C3 không yêu cầu nhận lại và đề nghị sung quỹ Nhà nước. Do vậy, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số sim 0522826601, imei 1: 860517062151784, số imei 2: 860517062151792 thu giữ của T1: Điện thoại này T1 không sử dụng vào việc phạm tội, đối tượng Thanh Trúc khi hỏi mua ma túy của T1 thì liên lạc với T1 qua điện thoại O (T1 đã làm mất, không thu hồi được) nên trả lại cho bị cáo T1.

[7]. Về khoản thu lợi bất chính:

Các bị cáo đã bán được 500.000 đồng tiền ma túy cho người đàn ông đến mua tại Khách sạn S, do đó cần buộc các bị cáo nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính này để sung quỹ Nhà nước, mỗi bị cáo phải nộp lại 250.000 (hai trăm năm mươi ngàn) đồng.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, buộc mỗi bị cáo nộp phạt bổ sung 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

[9]. Đối với đối tượng hỏi mua ma túy là Thanh T2, người đàn ông đến khách sạn mua ma túy và người bán ma túy cho LT1 (đều không rõ nhân thân, lai lịch) cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả. Do vậy, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, có cơ sở xử lý sau.

[10]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Vũ LLương Thị Bích T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Vũ L.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Buộc bị cáo Nguyễn Vũ L nộp phạt bổ sung 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lương Thị Bích T1.

Xử phạt bị cáo Lương Thị Bích T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Buộc bị cáo Lương Thị Bích T1 nộp phạt bổ sung 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 gói niêm phong số 203/24 (G1) có chữ ký của Lương Thị Bích T1, Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên);
  • + 01 gói niêm phong số 203/24 (G2) có chữ ký của Nguyễn Vũ L, Nguyễn Anh T3 (Điều tra viên);
  • + 01 ba lô màu đen có chữ Boom Bayah.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Realme, số sim: 0769678314, imei 1: 865394042169215, số imei 2: 865394042169244 (không kiểm tra được số sim và số imei).
  • + 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển số 54R3-0795, số khung: RLHJF18008Y815244, số máy: JF18E-5423833.

Trả lại cho bị cáo Lương Thị Bích T1 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số sim 0522826601, imei 1: 860517062151784, số imei 2: 860517062151792 (không kiểm tra được số sim và số imei).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Buộc mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền 250.000 (hai trăm năm mươi ngàn) đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND quận Phú Nhuận;
  • - Điều tra Tổng hợp CAQPN;
  • - Chi cục THADS QPN;
  • - Phòng PC 06;
  • - Sở Tư pháp TP HCM;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Thu Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger