Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HSST

Ngày: 10 – 3 – 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Kiều Phan Ái Liên;
  2. Ông Lê Hữu Luân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân

dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Phương T – Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Đình H, tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh năm 1997 tại tỉnh Bình

Phước. Nơi thường trú: Số A, Ngõ A đường K, phường H, quận T, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: số C U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình T1 và con bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giam từ ngày 06/6/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Huỳnh Thị Thu K, sinh năm 1997 (có mặt)

Địa chỉ: B C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Phòng B, Chung cư E đường Đ, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

1

2/ Bà Hồ Thị Kim T2, sinh năm 1974 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 1 tỉnh lộ 2, thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đình H là đối tượng không có nghề nghiệp, vào khoảng năm 2019, H đã mua trên mạng internet một bộ đồng phục Công an nhân dân của lực lượng an ninh, gồm 01 áo dài tay thu đông, 01 áo sơ mi trắng, 01 cà vạt, 01 quần dài, 01 dây thắt lưng, 01 đôi giày sĩ quan và 01 đôi tất. H mặc đồ đã mua trên giả danh công an đăng lên mạng xã hội Facebook để tạo nhiều tương tác. Đến tháng 7/2022, Nguyễn Thị H1 (bạn của H) giới thiệu Huỳnh Thị Thu K có 01 mảnh đất ở quê cần làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc này, Lê Đình H nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của K, H giới thiệu làm ở Cục A - Bộ C và có nhiều mối quan hệ có thể giúp đỡ được K. Kiều tưởng thật nên đã nhờ H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lên một phần thổ cư đối với mảnh đất địa chỉ số A Tỉnh Lộ, D, D, Khánh Hòa. H liên lạc với Trịnh Hòa K1 nhờ làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 30.000.000 đồng thì K1 đồng ý. Sau đó, H liên lạc với K nói K đưa hồ sơ cho K1 để làm thủ tục, phí là 250.000.000 đồng, K đồng ý. Sau đó, K liên lạc với K1 để đưa hồ sơ làm thủ tục, đồng thời chuyển cho H 3 lần vào số tài khoản Ngân hàng TMCP K2, số tài khoản 19037211985013 mang tên Lê Đình H tổng số tiền là 250.000.000 đồng. Sau đó, H gặp K1 để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả thì K1 đưa 01 bản photo Giấy chứng nhận giả mang tên Hồ Thị Kim T2, thửa đất số 1028 địa chỉ Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa được ký ngày 15/8/2019, H đưa cho K1 30.000.000 đồng như đã thỏa thuận. Sau đó, H liên lạc gặp K để đưa bản photo giấy chứng nhận giả để tạo lòng tin với K, nói với K đang vướng một số thủ tục nên chưa lấy giấy chứng nhận bản chính được, mục đích để lừa thêm tiền. Nhưng sau đó K phát hiện ra giấy chứng nhận là giả nên đòi lại H số tiền 250.000.000 đồng. H không trả số tiền trên và bỏ trốn. Đến ngày 02/6/2024 thì bị K phát hiện và trình báo Công an P, quận B bắt giữ.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu đen, dung lượng 256GB.

Về trách nhiệm dân sự: bà Huỳnh Thị Thu K yêu cầu bị cáo Lê Đình H phải bồi thường cho bà K số tiền 250.000.000 đồng mà H đã chiếm đoạt.

Bản cáo trạng số 60/CTr-VKSBTh ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Đình H

2

về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Lê Đình H đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.

Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Lê Đình H từ 08 năm tù đến 09 năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, bồi thường thiệt hại số tiền 250 triệu đồng cho bị hại theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:

Xuất phát từ việc lười lao động, không có nghề nghiệp nhưng muốn có tiền tiêu xài vào mục đích cá nhân nên vào khoảng tháng 7/2022, Lê Đình H đã thực hiện thủ đoạn gian dối, giả danh C1 để tạo lòng tin với bà Huỳnh Thị Thu K nhằm lừa đảo chiếm đoạt số tiền 250.000.000 đồng của bà K.

Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Lê Đình H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng

3

đến dưới 500.000.000 đồng, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét thấy, bị cáo Lê Đình H là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đáng nhưng bị cáo lại lợi dụng sự sơ suất, tin tưởng của những người bị hại, dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người bị hại, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Đình H là hết sức nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo bằng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Đình H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại bà Huỳnh Thị Thu K yêu cầu bị cáo Lê Đình H phải bồi thường cho bà K số tiền 250.000.000 đồng mà H đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên là chính đáng và bị cáo H cũng đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà K, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự để tuyên buộc bị cáo H phải bồi thường số tiền là 250.000.000 đồng cho bị hại Huỳnh Thị Thu K.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu đen, dung lượng 256GB là phương tiện liên lạc để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Đối với hành vi làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất mang tên Hồ Thị Kim T2 đối với thửa đất số 1028 địa chỉ Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa được ký ngày 15/8/2019 (bản photocopy), do đối tượng Trịnh Hòa K1 đã chết, Giấy chứng nhận trên là bản photocopy nên chưa đủ cơ sở để xử lý hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

4

Đối với việc H mua trang phục Công an nhân dân để mặc chụp hình đăng trên mạng xã hội, do không thu giữ được trang phục, chưa có cơ sở điều tra, xác minh đối với hành vi “Mua bán trang phục công an nhân dân”, nên không có căn cứ để xử lý.

[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Đình H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
  2. Căn cứ vào điểm a, khoản 3, Điều 174; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Xử phạt: bị cáo Lê Đình H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 06/06/2024.

  3. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
  4. - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu đen, dung lượng 256GB (không kiểm tra tình trạng hoạt động).

    (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)

  5. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
  6. Tuyên buộc bị cáo Lê Đình H phải bồi thường cho bà Huỳnh Thị Thu K số tiền là 250.000.000 đồng.

    Căn cứ Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm. Nếu không có thỏa thuận thì theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành

5

án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Đình H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  2. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Q. Bình Thạnh;
  • - Công an TP.HCM (PV06);
  • - CC THA DS Q. Bình Thạnh
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm
  • giam khu vực quận Bình Thạnh.;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thanh Mười

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HSST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 64/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đình H - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger