Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HSPT

Ngày: 19/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu.
Ông Hoàng Trí Thức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trang - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 90/2025/HSPT ngày 22/5/2025 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn D do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1984 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: 60 D, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: nhân viên Ngân hàng, trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Trung P và bà Đặng Thị T; vợ: Bùi Thị Thùy L và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án: không, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/03/2024 đến ngày 27/03/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn sang “Bảo lĩnh” (có mặt tại phiên tòa).

2

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn D: Luật sư Nguyễn Văn C – Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

I. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tuấn D là nhân viên làm việc tại bộ phận quản lý khách hàng chi nhánh P3 thuộc ngân hàng B chi nhánh B1. Năm 2020, thông qua mối quan hệ, D quen biết với bà Trần Thanh H, sinh năm 1969, trú tại địa chỉ: 1 L, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 2023, D đã thỏa thuận vay tiền của bà H với lãi suất 0,2%/ngày để cho khách hàng vay lại để làm hồ sơ đáo hạn. Khi khách hàng có nhu cầu vay tiền, D sẽ nói bà H chuyển trực tiếp số tiền vay cho khách hàng, sau đó D yêu cầu người vay đáo hạn khi giải ngân sẽ trả tiền (chuyển khoản) vào những số tài khoản do bà H cung cấp. D đã sử dụng số tiền vay từ bà H cho các khách hàng của D vay lại với lãi suất từ 0,3 đến 0,43%/ngày, cụ thể 07 khách hàng sau:

  1. Bà Lê Thị Thu T1, sinh năm 1981, trú tại: Tổ H, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ngày 07-8-2023, bà T1 cần phải tất toán khoản vay 2.000.000.000 đồng và 17.000.000 đồng tiền lãi cho ngân hàng nhưng bà T1 không có tiền để trả. Do đó, D thống nhất cho bà T1 vay số tiền 2.017.000.000 đồng, nhưng chỉ lấy tiền lãi trên số tiền 2.000.000.000 đồng. Bà T1 vay trong vòng 02 ngày với tiền lãi là 12.000.000 đồng, tương ứng với lãi suất 0,3%/1 ngày, gấp 5,48 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Ngày 08-8-2023, bà T1 đã trả hết khoản nợ trên. Số tiền thu lợi D thu được khi cho bà T1 vay là 12.000.000 đồng trong đó, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.191.781 đồng; tiền thu lợi bất chính là 9.808.219 đồng.
  2. Số tiền bị cáo D cho bà T1 vay có nguồn gốc do D mượn của bà Trần H, cụ thể số tiền 2.017.000.000 đồng. Bà H và D đã thỏa thuận lãi suất bà H cho D vay số tiền trên là 7.800.000 đồng, tương đương 0,195%/1 ngày, gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền bà H thu lợi khi cho D vay là 7.800.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.191.781 đồng; tiền thu lợi bất chính là 5.608.219 đồng.
  3. Ông Nguyễn Công N, sinh năm 1969; trú tại: Khu phố H, thị Trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ngày 24-8-2023, D cho ông N vay với số tiền 750.000.000 đồng, vay trong vòng 02 ngày với tiền lãi là 6.000.000 đồng, tương ứng với lãi suất là 0,4%/1 ngày, gấp 7,30 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Ngày 25-8-2023, ông N đã trả hết khoản nợ trên. Số tiền D thu lợi khi cho ông N vay là 6.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 821.9184 đồng; số tiền thu lợi bất chính là 5.178.082 đồng
  4. Số tiền bị cáo D cho ông N vay có nguồn gốc do D mượn của bà H, cụ thể số tiền 744.000.000 đồng. Bà H và D đã thỏa thuận lãi suất vay là 2.976.000 đồng, tương đương 0,20%/1 ngày, gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền thu lợi bà H thu được khi cho D vay là 2.976.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 815.342 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.160.658 đồng.
  5. Ông Nguyễn Hữu P1, sinh năm 1981; trú tại: Thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ngày 28-8-2023, D cho ông P1 vay số tiền 470.000.000 đồng trong vòng 02 ngày với tiền lãi là 4.000.000 đồng, tương ứng với lãi suất là 0,43%/1 ngày, gấp 7,77 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Ngày 29-8-2023, ông P1 đã trả hết khoản nợ trên. Số tiền D thu lợi khi cho ông P1 vay là 4.000.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 515.068 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.484.932 đồng.
  6. Số tiền bị cáo D cho ông P1 vay có nguồn gốc do D mượn của bà H, cụ thể số tiền 466.000.000 đồng. Bà H và D đã thỏa thuận lãi suất vay là 1.864.000 đồng, tương đương 0,20%/1 ngày, gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền thu lợi bà H thu được khi cho D vay là 1.864.000 đồng trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 510.685 đồng số tiền thu lợi bất chính là 1.353.315 đồng.
  7. Ông Phạm Việt C1, sinh năm 1974, trú tại: H N, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ngày 28-8-2023, D cho ông C1 vay số tiền 1.950.000.000 đồng, lãi suất 0,31%/1 ngày, cao gấp 5,62 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Ông C1 và bị cáo D thoả thuận vay trong 2 ngày tương ứng với tiền lãi là 12.000.000 đồng. Ngày 29-8-2023, ông C1 đã trả hết khoản nợ trên. Số tiền D thu lợi khi cho ông C1 vay là 12.000.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.136.986 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 9.863.014 đồng.
  8. Số tiền bị cáo D cho ông C1 vay có nguồn gốc do D mượn của bà H, cụ thể số tiền 1.938.000.000 đồng. Bà H và D thỏa thuận lãi suất vay là 7.800.000 đồng, tương đương 0,2%/1 ngày, gấp 3,67 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền thu lợi bà H được hưởng khi cho D vay là 7.800.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 2.123.836 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 5.676.164 đồng.
  9. Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1986; trú tai: Tổ H, Ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ngày 12-10-2023, D cho ông T2 vay với số tiền 750.000.000 đồng, vay trong vòng 02 ngày với lãi suất là: 0,3%/1 ngày, gấp 5,48 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự với số tiền lãi tương ứng là 4.500.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 821.918 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.678.082 đồng. Ngày 13-10-2023, ông T2 đã trả hết khoản nợ trên.
  10. Số tiền bị cáo D cho ông T2 vay có nguồn gốc do D mượn của bà H, cụ thể số tiền 745.500.000 đồng. Bà H và D thỏa thuận lãi suất vay là 2.980.000 đồng, tương đương 0,20%/1 ngày gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền thu lợi bà H thu được khi cho D vay là 2.980.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 816.986 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.163.014 đồng.
  11. Ông Phạm Phú T3, sinh năm 1989; trú tại: A C, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ngày 12-10-2023, D cho ông T3 vay với số tiền 700.000.000 đồng, vay trong vòng 02 ngày với lãi suất là 0,4%/1 ngày, gấp 6,3 lần lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự, với tiền lãi tương ứng là 5.600.000 đồng.
  12. Ngày 13-10-2023, ông T3 đã trả hết khoản nợ trên. Số tiền thu lợi D thu được khi cho ông T3 vay là 5.600.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 767.123 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.832.877 đồng.
  13. Số tiền bị cáo D cho ông ông T3 vay có nguồn gốc do D mượn của bà H, cụ thể số tiền 694.400.000 đồng. Bà H và D thỏa thuận tiền lãi vay là 2.778.000 đồng, tương đương 0,20%/1 ngày, gấp 3,66 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền thu lợi bà H thu được khi cho D vay là 2.778.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 760.986 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.017.014 đồng.
  14. Bà Nguyễn Thị Kim P2, sinh năm 1964; trú tai: D N, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ngày 7-11-2023, D cho bà P2 vay với số tiền 2.500.000.000 đồng, vay trong vòng 02 ngày với lãi suất là 0,4%/1 ngày, gấp 6,3 lần lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự với tiền lãi tương ứng là 20.000.000 đồng.
  15. Ngày 8-11-2023, bà P2 đã trả hết khoản nợ trên. Số tiền thu lợi D thu được khi cho bà P2 vay là 20.000.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.739.726 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 17.260.274 đồng.
  16. Số tiền bị cáo D cho bà P2 vay có nguồn gốc do D mượn của bà H, cụ thể số tiền 2.475.000.000 đồng. Bà H và D thỏa thuận tiền lãi vay là 9.900.000 đồng, đương 0,2%/1 ngày, gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền thu lợi bà H thu được khi cho D vay là 9.900.000 đồng, trong đó, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.712.329 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 7.187.671 đồng.

Như vậy, tổng số tiền thu lợi bất chính bị cáo D thu được khi cho 07 khách hàng vay là 54.105.479 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính bà H thu được khi cho D vay là 26.166.055 đồng.

2. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;

Áp dụng Khoản 1 Điều 201, các điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D 100.000.000 (một trăm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

* Về xử lý tiền liên quan đến tội phạm:

  • Buộc bị cáo nộp số tiền dùng để cho vay là 9.120.000.000đ (chín tỉ, một trăm hai mươi triệu đồng) và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 9.994.520đ (chín triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước. Tổng số tiền bị cáo phải nộp để sung vào Ngân sách Nhà nước là 9.129.994.520đ (chín tỉ, một trăm hai mươi chín triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi đồng).
  • Buộc bị cáo trả lại cho bà Lê Thị Thu T1 số tiền 9.808.219đ (chín triệu, tám trăm lẻ tám nghìn, hai trăm mười chín đồng).
  • Buộc bị cáo trả lại cho ông Nguyễn Công N số tiền 5.178.082đ (năm triệu, một trăm bảy mươi tám nghìn, không trăm tám mươi hai đồng).
  • + Buộc bị cáo trả lại cho ông Nguyễn Hữu P1 số tiền 3.484.932đ (ba triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng).
  • + Buộc bị cáo trả lại cho ông Phạm Việt C1 số tiền 9.863.014đ (chín triệu, tám trăm sáu mươi ba nghìn, không trăm mười bốn đồng).
  • + Buộc bị cáo trả lại cho ông Đinh Văn T2 số tiền 3.678.082đ (ba triệu, sáu trăm bảy mươi tám nghìn, không trăm tám mươi hai đồng).
  • + Buộc bị cáo trả lại cho ông Phạm Phú T3 số tiền 4.832.877đ (bốn triệu, tám trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng).
  • + Buộc bị cáo trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim P2 số tiền 17.260.274đ (mười bảy triệu, hai trăm sáu mươi nghìn, hai trăm bảy mươi bốn đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Ngày 24/3/2025 bị cáo Nguyễn Tuấn D kháng cáo đề không tịch thu số tiền gốc 9.120.000.000 đồng dùng để cho vay. Ngày 02/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKSVT-kháng nghị không tịch thu tiền bị cáo dùng để cho vay.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh thành phố Vũng Tàu ban hành Kháng nghị đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trong thời hạn luật định.

Về nội dung: Nhận định của Hội đồng xét xử tại Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 21/3/2025 trong phần xử lý tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Căn cứ Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 9.120.000.000 đồng bị cáo dùng để cho vay. Tuy nhiên, tại điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 quy định:

“1. Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với:

a) Khoản tiền, tài sản khác người phạm tội dùng để cho vay;”

Đây là quy định chung, không nêu rõ về việc xác định đó của người phạm tội hay của người khác. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 để tuyên tịch thu số tiền bị cáo dùng để cho vay là không đúng. Bơi lẽ, ngoài việc áp dụng quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ- HĐTP ngày 20-12-2021; Hội đồng xét xử cần phải áp dụng cả Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 về Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, tại Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP quy định “Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự”. Vì vậy, Hội đồng xét xử phải tuân thủ quy định tại Khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự “Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu”. Trong vụ án này, số tiền 9.120.000.000 đồng mà bị cáo dùng để cho người khác vay thực chất là tiền của một người khác mà bị cáo đã mượn. Trong quá trình mượn tiền, người cho bị cáo mượn tiền không biết việc bị cáo sử dụng số tiền đã mượn để thực hiện hành vi phạm tội, việc vay mượn hoàn toàn đúng pháp luật và bị cáo cũng đã trả lại tiền cho người cho mượn đầy đủ, bản thân bị cáo không bỏ tiền để thực hiện hành vi phạm tội, nên không có căn cứ để tịch thu số tiền nêu trên vào ngân sách nhà nước. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không tịch thu số tiền nêu trên.

6. Luật sư Nguyễn Văn C bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn D tranh luận:

Đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát về việc không tịch thu số tiền 9.120.000.000 đồng. Bởi lẽ, toàn bộ số tiền này không phải của bị cáo mà bị cáo đi vay của bà Trần Thanh H và đã trả lại hết cho bà H. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị cáo nộp lại số tiền này vào ngân sách nhà nước là không đúng, theo quy định tại Khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự “Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu”. Trong vụ án này, số tiền này là của bà H và bà H không biết việc bị cáo làm nên không có lỗi. Hiện nay, bị cáo không có tiền không có tài sản, nợ rất nhiều, bản án tuyên xong bị cáo cũng không có tiền để trả, bị cáo cho vay lãi xuất không quá cao, không cho vay chuyên nghiệp làm nguồn sống chính nên mong Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo không tịch thu số tiền nêu trên.

Bị cáo đồng ý với quan điểm của luật sư, không tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành trong thời hạn luật định, đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau:

Nguyễn Tuấn D là nhân viên làm việc tại bộ phận quản lý khách hàng chi nhánh P3 thuộc ngân hàng B chi nhánh B1. Năm 2020, thông qua mối quan hệ, D quen biết với bà Trần Thanh H, sinh năm 1969, trú tại địa chỉ: 1 L, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 2023, D đã thỏa thuận vay tiền của bà H với lãi suất 0,2%/ngày để cho khách hàng vay lại để làm hồ sơ đáo hạn. Khi khách hàng có nhu cầu vay tiền, D sẽ nói bà H chuyển trực tiếp số tiền vay cho khách hàng, sau đó D yêu cầu người vay đáo hạn khi giải ngân sẽ trả tiền (chuyển khoản) vào những số tài khoản do bà H cung cấp. D đã sử dụng số tiền vay từ bà H cho 07 khách hàng của D vay lại với lãi suất từ 0,3 đến 0,43%/ngày và thu lợi bất chính tổng số tiền 54.105.479 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và số tiền thu lợi bất chính, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn D và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đề nghị không tịch thu số tiền bị cáo dùng để cho vay lãi nặng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định “Tịch thu, sung quỹ Nhà nước đối với Khoản tiền, tài sản khác người phạm tội dùng để cho vay” và không có quy định phân biệt khoản tiền, tài sản đó người phạm tội từ đâu mà có.

Do vậy, mặc dù trong vụ án này, nguồn tiền của bị cáo Nguyễn Tuấn D dùng để cho vay có được trên cơ sở các giao dịch dân sự vay mượn của bà Trần Thanh H và các hợp đồng vay này đều đã được tất toán, số tiền dùng để cho vay đã được trả lại cho bà H nhưng bị cáo vẫn phải bị áp dụng chế tài “Tịch thu, sung quỹ số tiền dùng để cho vay” theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01 nêu trên. Do đó, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết 01 để tịch thu, sung quỹ đối với khoản tiền mà bị cáo Nguyễn Tuấn D dùng để cho vay là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, khi xác định số tiền dùng để cho vay, Hội đồng xét xử chưa làm rõ phương thức cho vay, tổng số tiền dùng cho vay tại cùng một thời điểm mà chỉ tổng hợp toàn bộ số tiền của tất cả các lần cho vay để buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước là chưa toàn diện và gây bất lợi cho bị cáo.

Bởi lẽ, quá trình điều tra xác định trong khoảng thời gian dài từ tháng 08 đến tháng 11 năm 2023 nhưng bị cáo Nguyễn Tuấn D chỉ 04 lần cho 7 người vay tiền, mục đích của việc vay tiền là đáo hạn ngân hàng với thời gian vay ngắn, mỗi khoản vay chỉ kéo dài 02 ngày và đã được tất toán toàn bộ, số tiền dùng để cho vay đã được hoàn trả cho chủ sở hữu là bà Trần Thanh H. Trong 07 người vay này thì vào ngày 28/08/2023 bị cáo đồng thời cho 2 người vay là ông Nguyễn Hữu P1 với số tiền 470.000.000 đồng và ông Phạm Việt C1 với số tiền 1.950.000.000 đồng (tổng cộng 2.420.000.000 đồng) và vào ngày 12/10/2023, bị cáo đồng thời cho 2 người vay là ông Đinh Văn T2 với số tiền 750.000.000 đồng và ông Phạm Phú T4 với số tiền 700.000.000 đồng (tổng cộng 1.450.000.000 đồng). Đối với 03 người vay còn lại là riêng lẻ, cách biệt về thời gian và người vay nhiều nhất là bà Nguyễn Thị Kim P2 với số tiền 2.500.000.000 đồng và cũng đã tất toán xong.

Như vậy, có thể thấy hình thức cho vay của bị cáo là cho vay xoay vòng, sau khi người vay trước đã tất toán, số tiền đó lại tiếp tục được sử dụng để cho người sau vay nên theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, chỉ có thể xác định số tiền lớn nhất trong số các lần cho vay lãi nặng (riêng lẻ hoặc tổng hợp số tiền cho vay nếu cùng thời điểm) mà bị cáo đã thực hiện là số tiền thực tế mà bị cáo có (hoặc người đã cho bị cáo vay có). Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, xác định số tiền lớn nhất mà bị cáo (người cho bị cáo vay) có được dùng để cho vay lãi nặng là 2.500.000.000 đồng và buộc bị cáo có trách nhiệm nộp số tiền này để sung quỹ Nhà nước mới phù hợp với quy định.

Đây là tình tiết mới phát sinh và chưa có hướng dẫn cụ thể, chính xác nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không có lỗi.

[4] Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm d Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn D, chấp nhận một phần kháng nghị của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu; sửa quyết định của Bản án sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 21 tháng 03 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về biện pháp tư pháp;

Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn D phải nộp 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 21 tháng 03 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Tuấn D không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/6/2025).

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS thành phố Vũng Tàu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Thái Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HSPT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 64/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn D - Cho vay lãi năng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger