Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TAM KỲ

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày 30-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Trần Phi Tiển;

+ Bà Nguyễn Thị Ánh Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Lê Doãn Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức Tr, giới tính: nam; tên gọi khác: không có; Sinh ngày 01 tháng 10 năm 1997, tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 8, phường A, thành phố T, tỉnh Q; Nơi ở hiện tại: Kiệt 178 Trần Quý Cáp, phường H, thành phố T, tỉnh Q; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; Con ông Nguyễn Văn T (sinh năm 1973) và bà Nguyễn Thị Thu T (sinh năm 1977); Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con đầu; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: ngày 16/10/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/6/2022.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 11/01/2016, bị Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 01/4/2017;

- Ngày 08/4/2013, bị Công an thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản".

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “tạm giữ” từ ngày 11/02/2025 đến ngày 14/02/2025 chuyển "tạm giam". Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Tam Kỳ. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Ông Nguyễn Nhật V, sinh ngày 13/7/1991; Nơi thường trú: thôn Th, xã T, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện tại: xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Hữu H, sinh ngày 02/02/1995; Nơi thường trú: thôn Kh, xã T, huyện Ph, tỉnh Q; Nơi tạm trú: Khối phố 5, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Th, sinh ngày 27/10/1996; Nơi thường trú: thôn Ph, xã Tam Xuân 1, huyện N, tỉnh Q. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 06/7/2022, Nguyễn Đức Tr đi bộ trên đường Hùng Vương đoạn trước chợ Vườn Lài, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam thì gặp Nguyễn Văn Th đang điều khiển xe mô tô hiệu Dream biển kiểm soát 92K4-7756 đi xe trên đường. Tr gọi Th lại hỏi: “Có lấy cỏ được không”. Th trả lời: “Tau còn 20.000 đồng trong túi đây, không đủ để lấy”. Tr nói lại: “Còn 20.000 đồng thì góp vào đây để tui lấy”. Th đồng ý và đưa tiền cho Tr. Sau đó, Th chở Tr đến quán cà phê Sao Đêm (đường Hùng Vương, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), khi đến nơi Tr đi vào bên trong quán mua “Cỏ” của một người nữ (không rõ lai lịch), còn Th đứng ngoài xe đợi. Khoảng 20 giờ 00 phút, Th chở Tr đến khu vực bờ hồ Nguyễn Du, thuộc khối phố Mỹ Bắc, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Tr và Th ngồi hút “Cỏ” được một lúc thì hết thuốc lá để bỏ “Cỏ” vào hút. Lúc này, anh Nguyễn Nhật V đang ngồi hút “Cỏ” trên ghế đá cách vị trí ngồi của Tr và Th khoảng 02 mét. Tr và Th đi lại chỗ V xin điếu thuốc lá. V đưa cho Tr điếu thuốc lá, Tr bỏ “Cỏ” vào bên trong điếu thuốc rồi cả ba cùng ngồi hút. Một lúc sau, Tr nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại và xe mô tô của V, Tr giả vờ mượn điện thoại của V để gọi điện cho bạn, V đồng ý và đưa chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S cho Tr mượn. Tr cầm điện thoại đi ra ngoài giả vờ gọi điện khoảng 05 phút thì quay lại chỗ V. Lúc này, Tr tiếp tục nói dối V cho mượn xe mô tô nhãn hiệu AirBlade màu xám đen, biển kiểm soát 92N1 53962 của V để đi mua “Cỏ” về hút. V nói: “Răng không lấy xe Dream chạy đi”. Tr nói: “Xe hết xăng đi không được”. Nói xong Tr đi lại mở bình xăng xe Dream cho V xem, V thấy xe gần hết xăng nên đồng ý giao xe cho Tr mượn. Do xe Airblade của V sử dụng chìa khóa thông minh (SmartKey), Tr không biết sử dụng nên V hướng dẫn cách sử dụng. Sau đó, Tr điều khiển xe mô tô của V đến phòng trọ của Phan Hữu H gần tiệm Massage Thủy Tiên (đường Nguyễn Hoàng, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Khi gặp Hải, Tr nói: “Xe của đứa em không có giấy tờ anh cầm hộ anh cầm được bao nhiêu”. Hải đồng ý cầm cho Tr với số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Anh V cùng với anh Th ngồi đợi Tr quay lại để trả điện thoại, xe mô tô nhưng không thấy quay lại.

Sau khi cầm xe, Tr bỏ trốn vào Thành phố Hồ Chí Minh. Tr tháo sim điện thoại của V ra khỏi điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S và gắn sim khác vào sử dụng. Trong thời gian bỏ trốn, Tr không liên lạc gì với Th và V. Đối với chiếc điện thoại Iphone 5S, do không có tiền tiêu xài nên Tr đã bán cho tiệm điện thoại (không nhớ địa chỉ) tại Thành phố Hồ Chí Minh với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Do Nguyễn Đức Tr không nhớ rõ địa chỉ và tên tiệm cầm đồ mà Tr đã bán điện thoại nên Cơ quan CSĐT không thu hồi đối với chiếc điện thoại này.

Ngày 01/8/2022, anh Nguyễn Nhật V phát hiện xe mô tô hiệu AirBlade biển kiểm soát 92N1 - 53962 của mình để tại nhà xe Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam nên trình báo Công an thành phố Tam Kỳ.

Đến đầu năm 2025, Nguyễn Đức Tr đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ đầu thú hành vi phạm tội của Tr.

* Tang vật tạm giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu xám đen, số máy: JF63E2436673, số khung: 6326KZ036535, BKS: 92N1-539.62.

* Tại kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐG ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố Tam Kỳ, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu xám đen, số máy: JF63E2436673, số khung: 6326KZ036535, BKS: 92N1-539.62, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 25.000.000₫ (hai mươi lăm triệu đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 5S màu trắng, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 900.000đ (chín trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 25.900.000₫ (hai mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSTK-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Tr về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Tr với mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; do bị cáo không có tài sản nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Nhật V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Hữu H không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập xử lý.

* Về xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan khác: Theo như nội dung đề nghị tại bản cáo trạng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tại phiên toà, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[1.2]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào tối ngày 06/7/2022, tại khu vực bờ hồ Nguyễn Du thuộc khối phố Mỹ Bắc, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, Nguyễn Đức Tr dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh Nguyễn Nhật V 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát 92N1 - 53962 trị giá 25.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động Apple Iphone 5S có trị giá 900.000 đồng rồi mang đi cầm cố, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Đức Tr chiếm đoạt là 25.900.000₫ (Hai mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng).

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Đức Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tài sản hợp pháp của mọi công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác đều bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Bị cáo đã lợi dụng lòng tin của bị hại để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã hai lần bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” với mức tổng hình phạt là 5 năm tù. Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tháng 6/2022 nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà đến tháng 7/2022, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức Tr đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo đã có tiền án về tội “Cướp giật tài sản” nay lại tiếp tục phạm tội như trên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (BLHS).

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Nhật V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Hữu H không có yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập xử lý.

[5]. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát: 92N1-539.62. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của anh Nguyễn Nhật V bị Nguyễn Đức Tr chiếm đoạt. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ đã trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Nhật V là phù hợp.

- Đối với số tiền 500.000 đồng Nguyễn Đức Tr bán điện thoại di động và số tiền 3.000.000 đồng Nguyễn Đức Tr cầm cố chiếc xe cho anh Phan Hữu H, Nguyễn Đức Tr đã tiêu xài hết. Anh Nguyễn Nhật V và anh Phan Hữu H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do đó, cần truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 3.500.000 đồng từ Nguyễn Đức Tr.

[6]. Những vấn đề liên quan trong vụ án:

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức Tr: Ngày 11/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ làm việc và tiến hành test nhanh ma túy đối với Nguyễn Đức Tr, kết quả: dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam đã chuyển thông tin vụ việc hành chính nêu trên của Nguyễn Đức Tr đến Công an phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ để tiếp tục xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với anh Nguyễn Văn Th là người chở Nguyễn Đức Tr đến bờ hồ Nguyễn Du thuộc khối phố Mỹ Bắc, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định việc Nguyễn Đức Tr chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát 92N1 - 53962 và 01 (một) điện thoại di động Iphone 5S của Nguyễn Nhật V thì Nguyễn Văn Th hoàn toàn không biết nên hành vi của Th không đồng phạm với Tr về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với Nguyễn Văn Th.

- Đối với người phụ nữ bán cỏ Mỹ cho Nguyễn Đức Tr tại quán cà phê Sao Đêm đường Hùng Vương, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam: Quá trình điều tra, Nguyễn Đức Tr khai không biết rõ nhân thân lai lịch của người phụ này nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam không có cơ sở để xác minh xử lý.

- Đối với việc sử dụng cỏ Mỹ tại bờ hồ Nguyễn Du thuộc phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ của Nguyễn Văn Th và Nguyễn Đức Tr, Nguyễn Nhật V vào ngày 06/7/2022. Sau khi tiếp nhận vụ việc, thời gian xảy ra đã lâu nên không tạm giữ được số cỏ Mỹ, đầu thuốc lá mà các đối tượng sử dụng hút cỏ Mỹ nên không có mẫu vật để giám định ma túy và không thể kiểm tra được ma túy trong cơ thể của Th, Tr vào ngày 06/7/2022. Do đó, không có cơ sở để xử lý về hành vi “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Th và Tr, V.

- Đối với anh Phan Hữu H: Tuy không kinh doanh dịch vụ cầm đồ nhưng khi Tr nhờ cầm giúp xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát 92N1 – 53962 với giá 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) thì Hải đồng ý. Lúc cầm xe Hải không biết được chiếc xe máy trên là do Tr lừa đảo chiếm đoạt của người khác mà có. Do đó hành vi của Hải không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự. Hành vi “nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” của Phan Hữu H đã vi phạm vào Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ nhưng đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Nam không đề cập xử lý đối với Hải.

- Đối với điện thoại iphone 5S Nguyễn Đức Tr khai sau khi bỏ trốn vào Thành phố Hồ Chí Minh, Tr cầm cố cho một tiệm cầm đồ tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng Tr không nhớ rõ địa chỉ và tên tiệm cầm đồ nên không có cơ sở để thu hồi trả cho bị hại Nguyễn Nhật V, đồng thời, không có cơ sở để xử lý đối với chủ cơ sở kinh doanh cầm đồ này.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Tr phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Tr 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 11/02/2025).

[2]. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Truy thu sung quỹ Nhà nước của Nguyễn Đức Tr số tiền 3.500.000 đồng

[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Đức Tr phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30-5-2025). Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh, thành phố;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q.Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công
  • an tỉnh Quảng Nam (PV06);
  • - Chi cục THADS TP. Tam Kỳ;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Bích Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Trọng phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger