|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2025/HS-ST Ngày 29-10-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quyết Thắng
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Thanh
Bà Lê Vân Trang
Ông Trần Quốc Toản
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29/10/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 01/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HS ngày 17/10/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Xuân T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23/02/1987 tại tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái (Nay là tổ Y 12, phường Y, tỉnh Lào Cai); Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp hiện tại: Lao động tự do (Nghề nghiệp trước khi khởi tố: Công an); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Xuân C, sinh năm 1964, con bà Lê Thị K, sinh năm 1963, hiện cùng trú tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái (Nay là xã V, tỉnh Lào Cai); Có vợ là Đỗ Ngọc Á, sinh năm 1999, trú tại tổ Y, phường Y, tỉnh Lào Cai (Nay là phường Y, tỉnh Lào Cai); Bị cáo có 03 người con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo là Đảng viên Đ, hiện đã bị khai trừ Đảng, theo Quyết định số 1472/QĐ/ĐUCA ngày 15/4/2025 của Đảng Ủy Công an tỉnh Y; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Lê Thị Minh T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24/9/1986 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái (Nay là Tổ dân phố H, phường Y, tỉnh Lào Cai); Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Chí T2 (Đã chết), con bà Bùi Thị P, sinh năm 1962, trú tại: phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái (Nay là phường Â, tỉnh Lào Cai); Có chồng là Nguyễn Văn C1, sinh năm 1982, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam H1, Bộ C2; Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 30/09/2008 bị Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 03 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 81/2008/HS-ST và ngày 28/08/2009 bị Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 08 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 103/2009/HS-ST, tổng cộng phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 10 năm 11 tháng 27 ngày (Đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L (Có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân T: Ông Trần Nam K1 – Luật sư Công ty L Thủy V. Địa chỉ: Số E phố S, phường L, tỉnh Lào Cai (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Minh T1: Ông Lê Trường S – Luật sư Công ty L Thủy V. Địa chỉ: Số E phố S, phường L, tỉnh Lào Cai (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Ngọc Á – Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái (Nay là phường Y, tỉnh Lào Cai) (Có mặt).
- Người làm chứng: Anh Vi Văn H – Địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai (Nay là xã G, tỉnh Lào Cai) (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 13/4/2025, tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh L phối hợp với Công an xã X, huyện B phát hiện Lê Thị Minh T1 đang đứng ở ven đường quốc lộ, lúc này T1 cầm trên tay 01 túi nilon màu đen có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, Lê Thị Minh T1 khai nhận bản thân cùng Lê Xuân T đi từ tỉnh Yên Bái lên tỉnh Lào Cai, lúc này T đang ngồi trên xe ô tô biển kiểm soát 30G-536.76 đỗ cách vị trí T1 đứng khoảng 100m. Nên đã đưa T1, T về trụ sở Công an xã X, tỉnh Lào Cai để làm việc. Dưới sự chứng kiến của chính quyền địa phương và người chứng kiến, tổ công tác kiểm tra túi nilon màu đen nói trên thì phát hiện bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa 01 bánh hình hộp chữ nhật. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với Lê Thị Minh T1 và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định; thu giữ của Lê Thị Minh T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; thu giữ của Lê Xuân T 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson lắp biển kiểm soát 30G-536.76, 01 bộ gồm 02 biển số 21A-132.89; 01 thẻ nhớ camera hành trình của xe; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, đã qua sử dụng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của T1, phát hiện và tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone. Đến sáng ngày 14/4/2025, Lê Xuân T ra đầu thú.
Kết quả điều tra xác định được: Vào tối ngày 12/4/2025, thông qua ứng dụng mạng xã hội Telegram, Lê Xuân T được một người không quen biết thuê vận chuyển 01 bánh ma tuý, loại Heroine từ tỉnh Yên Bái đến tỉnh Lào Cai để giao ma tuý cho người nhận, xong việc sẽ trả tiền công, T đồng ý nhưng hai bên chưa thống nhất cụ thể về số tiền công. Đến khoảng 10 giờ ngày 13/04/2025, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson biển kiểm soát 21A-132.89 đến khu vực gần cầu B, thành phố Y, tại đây T lấy 01 túi nilon màu đen chứa 01 bánh ma tuý Heroine được để từ trước dưới rãnh thoát nước ven đường theo sự hướng dẫn của người thuê nói trên. T giấu túi ma tuý này dưới ghế phụ phía trước xe ô tô. Sau đó, điều khiển xe ô tô đón Lê Thị Minh T1 đang đứng đợi cách đó khoảng 400 m. Lê Thị Minh T1 lên xe, ngồi ở vị trí ghế trước bên phụ, sau đó cả hai di chuyển đi lên đường cao tốc N - Lào Cai. Quá trình di chuyển, mỗi khi đến trạm thu phí, Lê Xuân T sử dụng biển số 21A-132.89, sau khi qua trạm thu phí, T tháo biển số trên và lắp biển số 30G-536.76 vào xe. Đến chiều cùng ngày, sau khi xuống nút giao IC17 Cao tốc N - Lào Cai thuộc khu vực thôn V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai (Lúc này, Lê Thị Minh T1 đã xuống hàng ghế sau ngồi), Lê Xuân T điều khiển xe ô tô đỗ ở ven đường bên phải Quốc lộ D. Tại đây, T cầm 01 túi ma túy xuống xe, đặt xuống mặt cỏ ven đường, lúc này T1 ngồi hàng ghế phía sau đã quan sát rõ sự việc. Sau đó, Lê Xuân T lái xe vòng sang bên đường đối diện, cùng T1 đi vào quán C3 uống nước, một lúc sau T điều khiển xe ô tô sang phía đối diện quán cơm, cách vị trí giấu ma tuý khoảng 40 mét để quan sát còn T1 ở tại quán cơm để đợi. Đến khoảng 14 giờ ngày 13/04/2025, có 01 chiếc xe taxi màu xanh dừng đỗ tại khu vực trước cửa quán C3, 01 người phụ nữ (không rõ thông tin, lai lịch) xuống xe gặp T1. Một lúc sau, T1 và người phụ nữ này cùng lên xe taxi rồi di chuyển đến gần vị trí T cất giấu ma tuý. Sau đó, T1 và người phụ nữ xuống xe taxi, T1 cầm túi ma túy lên tay thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, cùng lúc, chiếc xe taxi do người nam giới điều khiển và người phụ nữ di chuyển khỏi hiện trường. Quá trình điều tra Lê Xuân T khai sau khi nhận lời vận chuyển ma túy thì đã bàn bạc với bị cáo T1 về phương thức vận chuyển cũng như việc chia đôi số tiền công. Bị cáo T1 chỉ thừa nhận rằng, ngày 13/04/2025 Lê Xuân T rủ đi tỉnh Lào Cai chơi, T1 đồng ý, giữa T1 và T không hề có sự trao đổi hay thoả thuận gì liên quan đến việc vận chuyển trái phép chất ma tuý. Trên đường C - Lào Cai, T nói cho T1 biết việc T đang vận chuyển 01 bánh Heroine đến tỉnh Lào Cai. Khi đến ngã ba X thuộc thôn V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai, trong khi đang đứng ở ven đường, T1 gặp một người quen cũ là phụ nữ (T1 không nhớ thông tin có liên quan đến người này) đi xuống từ 01 chiếc xe taxi màu xanh. T1 lên xe taxi cùng người phụ nữ này, sau đó người phụ nữ rủ về nhà chơi nhưng T1 không đi và bảo người phụ nữ dừng xe lại. Lúc này, xe taxi dừng lại tại ven đường gần vị trí T cất giấu ma túy, T1 xuống xe thì nhận được điện thoại của T nhờ cầm túi ma túy cho T, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Việc T1 giúp T vận chuyển trái phép 01 bánh Heroine là do cả hai có mối quan hệ bạn bè, ngoài ra không vì lợi ích gì khác.
Về nguồn gốc ma tuý: Ngoài lời khai của bị cáo T ra, không có lài liệu nào khác xác định được người thuê vận chuyển cũng như nguồn gốc số ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 100/KL-KTHS ngày 14/04/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: 349,71 gam chất bột khô, màu trắng được đóng thành bánh gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine.
Tại Bản kết luận giám định số 144/KL-KTHS ngày 07/05/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 06 tệp video lưu trữ trong đĩa DVD cần giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 3144/KL-KTHS ngày 08/05/2025 của V1 Bộ C2 kết luận:
- Trên 01 túi nilon màu đen kích thước khoảng 52cm x 35 cm phát hiện có 07 dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định (ký hiệu từ 01 đến 07) Trong đó:
+ Dấu vết ký hiệu số 05 với dấu vân tay in ở ô cái phải trên chỉ bản ghi tên: Lê Xuân T, sinh ngày 23/2/1987, ĐKTT: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái là của cùng một người.
+ Các dấu vết ký hiệu số 01, 02, 03, 04, 06, 07 không phải của ai trong số hai người có in dấu vân tay trong hai chỉ bản mẫu so sánh gửi giám định.
Cáo trạng số 36/CT-VKS-P1 ngày 29/9/2025 của VKSND tỉnh Lào Cai đã truy tố các bị cáo Lê Xuân T và Lê Thị Minh T1 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu lời luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Xuân T và Lê Thị Minh T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250, điểm s,v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38; 54; 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân T mức án từ 18 năm đến 19 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38; 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Minh T1 mức án 20 năm tù.
Xử lý vật chứng, tuyên án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân T, ông Trần Nam K1 trình bày ý kiến bào chữa: Nhất trí với bản cáo trạng về tội danh và điều luật áp dụng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250, điểm s, v khoản 1,2 Điều 51, Điều 17, Điều 38; 54; 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T mức án 15 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và trả lại cho bị cáo chiếc xe ô tô.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Minh T1, ông Lê Trường S trình bày ý kiến bào chữa: Nhất trí với bản cáo trạng về tội danh. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250, điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38; 54; 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T1 mức án từ 16 đến 17 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Xuân T và Lê Thị Minh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 13/4/2025, Lê Xuân T và Lê Thị Minh T1 đã có hành vi vận chuyển 349,71 gam Heroine từ phường Y lên xã B, tỉnh Lào Cai, nhằm mục đích kiếm lời, tuy nhiên chưa kịp thực hiện việc giao ma túy thì bị cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Bản cáo trạng số 36/CT-VKS-P1 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Lê Xuân T và Lê Thị Minh T1 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung là “Heroine, ... có khối lượng 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm vào chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là người trực tiếp liên hệ, nhận và vận chuyển ma túy. Bị cáo T1, mặc dù không thừa nhận đã cùng bị cáo T liên hệ, thỏa thuận việc vận chuyển ma túy, nhưng T1 đã tiếp nhận ý chí của bị cáo T trong việc vận chuyển ma túy và là người cầm ma túy chuẩn bị thực hiện việc giao nhận, do đó các bị cáo đều là người thực hành tích cực trong vụ án.
Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo T thực sự ăn năn hối cải, do vậy đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Xuân T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình công tác đã có nhiều thành tích xuất sắc, nhiều lần được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Y, tỉnh Lai Châu, Giám đốc Công an tỉnh Y, Chủ tịch UBND huyện T tặng thưởng Bằng khen, Giấy khen và bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội trước pháp luật. Nên bị cáo T được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo Lê Xuân T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện được áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục, phong ngừa chung và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với Bị cáo Lê Thị Minh T1 có nhân thân xấu, bị cáo đã 02 lần bị Tòa án xét xử về tội Buôn bán trái phép ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù bị cáo chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm trong vụ án, nhưng bị cáo có nhân thân không tốt, có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thật nghiêm khắc mới đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi phạm tội và điều kiện hoàn cảnh kinh tế của bị cáo T nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo. Đối với bị cáo T1 là người không có công việc, thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Ý kiến của kiểm sát viên tại phiện tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân T: Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo T 15 năm tù, không phạt bổ sung là phạt tiền và trả lại cho bị cáo chiếc xe ô tô và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Minh T1, đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo Tâm tình T3 giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm t khoản 1 Điều 51 và Điều 54 BLHS, tuyên phạt bị cáo từ 16 đến 17 năm tù. Xét thấy ý kiến của những người bào chữa là không có căn cứ, không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nên không được chấp nhận.
Đối với người người phụ nữ và người lái tacxi đã gặp Lê Thị Minh T1 tại khu vực thôn V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 13/4/2025. Ngoài lời khai của các bị cáo, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác minh nhân thân, lai lịch của những người này, do vậy không chứng minh làm rõ được.
Đối với hành vi điều khiển xe gắn biển số không đúng chứng nhận đăng ký và sử dụng biển số giả của Lê Xuân T đã vi phạm quy định về Luật giao thông đường bộ, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã chuyển toàn bộ tài liệu liên quan cùng 01 bộ (gồm 02 bảng) biển số 30G-536.76 đến Phòng C4 Công an tỉnh L để xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.
[4] Về vật chứng:
- Đối với 348,08 gam Heroine; 01 thẻ nhớ; Các túi, hộp nilon màu đen, trắng. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe ô tô bị cáo Lê Xuân T sử dụng vận chuyển ma túy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, thu giữ của Lê Xuấn T4: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, thu giữ của bị cáo Lê Thị Minh T1 dùng để liên lạc trong quá trình vận chuyển ma túy. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone, thu giữ tại nhà của bị cáo Lê Thị Minh T1. Đây là chiếc điện thoại không được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo T1.
[5] Về án phí: Do các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Lê Xuân T và Lê Thị Minh T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 4 khoản 5 Điều 250, điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38; 54; 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 14/4/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Xuân T 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38; 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thi Minh T5 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 13/4/2025.
Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 hộp bìa catton được niêm phong dán kín bằng giấy trắng, tại các mép dán có chữ ký ghi rõ họ tên của những người tham gia niêm phong, hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh L và được dán phỉ bằng băng dính trong suốt. Trên một mặt của hộp niêm phong này có dán tờ giấy có in nội dung “Vật chứng còn lại sau thu mẫu, trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị Minh T1 tại thôn V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 13/4/2025”. Bên trong chứa: 348,08 gam chất ma túy, loại Heroine (H).
- + 01 bì thư in sẵn do Phòng K2 Công an tỉnh L phát hành được niêm phong dán kín. Trên mặt sau tại mép dán của bì niêm phong này có chữ ký ghi rõ họ tên của những người tham gia niêm phong, hình dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh L và được dán phủ bằng băng dính trong suốt. Trên một mặt còn lại của bì niêm phong này có ghi dòng chữ “Thẻ nhớ kèm theo KLGĐ số 116/KL-KTHS ngày 22/4/2025”. Bên trong có chứa: 01 thẻ nhớ Micro SD nhãn hiệu MIXIE có dòng chữ RKKB1036A05.
- + 01 túi niêm phong mã số: PS 1 2118301, tại mép mở của túi niêm phong này dán dải giấy trắng có in nội dung “Mẫu vật hoàn trả kèm theo KLGĐ số 3144 ngày 08 tháng 5 năm 2025”, chữ ký ghi rõ họ tên của những người tham gia niêm phong, hình dấu tròn đỏ của V1 Bộ C2 và dán phủ bằng bang dính trong suốt. Trên mặt trước của túi niêm phong này có dán mảnh giấy trắng in nội dung “Vật chứng thu mẫu giám định dấu vết đường vân và dấu vết sinh học trong vụ: Ngày 13/4/2025, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phối hợp cùng với Công an xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện, thu giữ vật chứng nghi là ma túy khi bắt quả tang Lê Thị Minh T1 tại thôn V, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai”. Bên trong chứa: 01 túi nilon màu đen, 01 túi nilon màu trắng, 02 miếng nilong màu trắng không rõ hình dạng kích thước, 01 hộp có 05 lớp nilon (gồm 02 lớp màu trắng, 01 lớp màu nâu, 01 lớp màu vàng và 01 lớp trắng trong suốt).
* Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI TUCSON, màu sơn: trắng, số khung: RLUC8W13BKN014817, số máy: G4NAKW142607. (Tình trạng: xe cũ, đã qua sử dụng, xe không niêm phong, kiểm tra các khoang rỗng bên trong xe không có gì) của Lê Xuân T.
- + 01 bộ (gồm 02 bảng) biển số xe ô tô có số 21A-132.89 đã qua sử dụng của Lê Xuân T.
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 21 004905 của xe ô tô mang biển số 21A-132.89 mang tên chủ xe Lê Xuân T.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Pro Max, có số IMEI: 353887102902916, kèm 01 thẻ sim. Tình trạng: đã qua sử dụng, (mật khẩu: 230287) của Lê Xuân T.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 ProMax, có số IMEI: 350069709967781, kèm 01 thẻ sim. Tình trạng: đã qua sử dụng, (mật khẩu: 272082) của Lê Thị Minh T1.
* Trả lại cho bị cáo Lê Thị Minh T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus, số IMEI: 353809087186687, kèm 01 thẻ sim. Tình trạng: đã qua sử dụng.
(Những vật chứng được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Lê Xuân T và bị cáo Lê Thị Minh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quyết Thắng |
Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 64/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê xuân T và đồng phạm phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy
