TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2025/HS-ST Ngày 28 - 6 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chỉnh, ông Nguyễn Xuân Chung:
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hữu D, sinh năm 1994.
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Hữu T và bà Trần Thị N. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai trong gia đình. Bị cáo có vợ Nguyễn Thị N1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt để tạm giam ngày 05/4/2024 đến ngày 03/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1997.
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị N2. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ nhất trong gia đình. Chồng Nguyễn Hữu D, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
Anh Dương Quang T1, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: TDP T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn 5, xã Long Tân, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước
- Anh Phùng Văn K, sinh năm 1981 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp Rừng Dầu, xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
- Anh Hồ Anh D1, sinh năm 1982 (vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Anh Trần Ngọc C, sinh năm 1976 (vắng mặt) Địa chỉ: Nam Định, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
- Anh Trần Quốc H1, sinh năm 1981 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình.
- Anh Trịnh Viết H2, sinh năm 1990 (vắng mặt) Địa chỉ: Xóm D, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An.
- Anh Nguyễn Ngọc H3, sinh năm 1979 (vắng mặt) Địa chỉ: Khu B, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội
- Anh Châu Minh H4, sinh năm 1981(vắng mặt) Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Anh Bùi Việt A, sinh năm 1984 (vắng mặt) Địa chỉ: TDP K, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Hoàng Thế T2, sinh năm 1988 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Mỏ Trạng, xã Tam Tiến, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Anh Trương Văn H5, sinh năm 1981 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn D, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/12/2023 anh Dương Quang T1, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố (TDP) T, thị trấn Đ, huyện L sử dụng tài khoản Zalo số điện thoại 0965.915.xxx, lên mạng tìm mua thiết bị định vị để gắn vào xe mô tô của anh T1. Sau đó anh T1 được số tài khoản Zalo “Shop Công nghệ GPS 4.0” đăng ký số điện thoại 0562.194.xxx do Nguyễn Hữu D, sinh năm 1994 và Nguyễn Thị N1, sinh năm 1997 (là vợ chồng) cùng trú tại thôn K, xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình liên hệ, giới thiệu thiết bị định vị cho anh T1, N1 trực tiếp tư vấn cho anh T1 thiết bị định vị siêu nhỏ GF09 có tính năng định vị, nghe lén cuộc gọi, đọc được tin nhắn, tin nhắn Z, tin nhắn Facebook của 10 số điện thoại khác với giá 2.900.000 đồng. Sau khi nghe tư vấn anh T1 đồng ý mua thiết bị GF09, tài khoản Zalo “Shop Công nghệ GPS 4.0” sẽ gửi thiết bị định vị GF09 cho anh T1 qua đường bưu điện, anh T1 thanh toán cho người giao hàng khi nhận thiết bị. Ngày 28/12/2023, anh T1 được nhân viên giao hàng của Công ty Cổ phần B (V) liên hệ giao hàng, khi nhận hàng anh T1 đã liên hệ với “Shop Công nghệ GPS 4.0" qua Z và làm theo hướng dẫn để sử dụng thiết bị nhưng chỉ sử dụng được tính năng định vị còn các tính năng khác không sử dụng được. Anh T1 liên lạc với “Shop Công nghệ GPS 4.0” thắc mắc thì bên “Shop Công nghệ GPS 4.0” yêu cầu anh T1 thanh toán tiền trước cho người giao hàng thì “Shop Công nghệ GPS 4.0” sẽ mở khóa, kích hoạt các tính năng còn lại của thiết bị. Anh T1 đã thanh toán số tiền 2.900.000 đồng cho nhân viên giao hàng nhưng sau đó vẫn không sử dụng được các tính năng khác của thiết bị. Anh T1 liên hệ “Shop Công Nghệ GPS 4.0” thì bị xóa kết bạn Zalo, chặn liên lạc, anh T1 biết bản thân bị lừa nên ngày 04/01/2024, anh T1 làm đơn trình báo gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện L và giao nộp: 01 thiết bị tên GF09 cùng hộp đựng, dây cáp sạc.
Cơ quan CSĐT Công an huyện L triệu tập Nguyễn Hữu D, và Nguyễn Thị N1 làm việc, tại Cơ quan điều tra D, N1 khai nhận là người đã lừa bán thiết bị GF09 cho anh Dương Quang T1 để chiếm đoạt số tiền 2.900.000 đồng của anh T1. Căn cứ vào lời khai của đối tượng, ngày 04/4/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và nơi làm việc của Nguyễn Hữu D và Nguyễn Thị N1, kết quả: Tại nơi ở thu giữ 03 thiết bị điện tử màu đen; 167 sim trắng và 25 vỏ sim; 11 thẻ Visa ACB tên LE THI HAI YEN, 10 thẻ Visa ACB tên PHAM THỊ HOAI, 02 thẻ Visa V1 và 01 thẻ V1 mang tên NGUYEN HUU DUNG; nhiều mảnh giấy dán nền màu vàng, số màu đỏ in nhiều số điện thoại khác nhau; 01 điện thoại Redmi Note 7 màu đỏ, cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh; 01 cây máy tính màu đen, phía trước có logo màu đỏ; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG, màu đen.
Tại nơi làm việc, thu giữ: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen phía sau có ký hiệu Latitude; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen; 01 thiết bị màu đen hình hộp chữ nhật, bên trong có lắp sim số seri 861261024406650; 01 quyển vở có dòng kẻ, loại vở học sinh, ngoài bìa có chữ “ĐẠI HỌC HARVARD”, bên trong có nhiều chữ viết và chữ số; 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Dell; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu ghi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng; 01 chiếc hộp bìa cứng, hình hộp chữ nhật, bên ngoài có chữ GPS TRACKER, bên trong có 01 thiết bị hình hộp chữ nhật màu đen có dán nhãn ID(W) 8019450112; số tiền 9.150.000 đồng. Tại phòng làm việc đầu tiên bên trái theo hướng từ cửa vào thu giữ: 01 cây máy tính phía trước ghi nhãn hiệu “GIPCO”, phía sau có ký hiệu "AC230V"; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung; 01 bàn phím và 01 chuột máy tính; 01 quyển vở có ghi chữ “BABY NOTEBOOK", bên trong có viết nhiều chữ và số. Tại phòng làm việc thứ 2 bên trái theo hướng từ cửa vào thu giữ: 01 cây máy tính màu đen nhãn hiệu VSP; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG; 01 bàn phím và 01 chuột máy tính.
Cùng ngày, Nguyễn Thị N1 giao nộp: 01 hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có dòng ký tự “Silicon valley technology and stable quality”, bên trong chứa 01 thiết bị màu đen, dạng hình hộp chữ nhật, trên bề mặt có ký tự “GF-09”, “869207032774011” và 01 đoạn dây cáp màu đen; 01 hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có dòng ký tự “Silicon valley technology and stable quality”, bên trong chứa 01 thiết bị màu đen, dạng hình hộp chữ nhật, trên bề mặt có ký tự “GF-09”, “869207032783541” và 01 đoạn dây cáp màu đen; 01 hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có dòng ký tự “Silicon valley technology and stable quality”, bên trong chứa 01 thiết bị màu đen, dạng hình hộp chữ nhật, trên bề mặt có ký tự “GF-09”, “2123461480” và 01 đoạn dây cáp màu đen.
Ngày 10/5/2025, Nguyễn Hữu D và Nguyễn Thị N1 giao nộp số tiền 20.000.000 đồng là tiền của khách hàng đã mua thiết bị.
Tại bản kết luận số 708/KL-KTHS ngày 18/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Thiết bị điện tử gửi giám định không có tính năng ghi âm và lưu trữ tại thiết bị; không định vị vị trí số điện thoại của người khác đang sử dụng; không nghe lén số điện thoại của người khác đang sử dụng; không đọc tin nhắn số điện thoại, Z, Facebook của người khác đang sử dụng.
Tại công văn số 498/PC09 ngày 11/5/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B trả lời: Thiết bị gửi giám định trên có tính năng định vị vị trí của thiết bị.
Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Nguyễn Hữu D và Nguyễn Thị N1 kinh doanh bán sim điện thoại, sim số đẹp, thực phẩm chức năng tại nhà từ năm 2022. Đến khoảng tháng 9 năm 2022, D và N1 thấy trên ứng dụng Zalo có tài khoản Zalo (cả hai không nhớ tên tài khoản, không biết ai là chủ tài khoản này) đăng quảng cáo bán thiết bị có tính năng theo dõi di chuyển, định vị vị trí của thiết bị khi gắn trên phương tiện giao thông. D đã liên hệ với chủ tài khoản Zalo trên để đặt mua các thiết bị định vị có tên GF09, N16S và X8 (D không nhớ đã mua bao thiết bị) với giá từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng/01 thiết bị để bán cho khách có nhu cầu. Khi nhận hàng D biết các thiết trên là hàng không rõ nguồn gốc, chỉ có tính năng định vị được vị trí của thiết bị, sau đó vợ chồng D, N1 đăng quảng cáo bán thiết bị định vị trên ứng dụng Facebook, Z nhưng do ít khách quan tâm nên vào khoảng tháng 01 năm 2023, D và N1 tự quảng cáo khuếch đại thêm tính năng của thiết bị là định vị được số điện thoại của người khác, nghe lén cuộc gọi điện thoại của người khác, đọc được tin nhắn, tin nhắn Z, tin nhắn Facebook của số điện thoại khác với mục đích để bán được nhiều thiết bị với giá cao hơn. D chạy quảng cáo trên mạng xã hội Facebook với nội dung “Thiết bị GPS phát hiện ngoại tình, theo dõi Zalo, M, cuộc gọi, định vị chính xác. Hỗ trợ quản lý vợ chồng, con cái, người yêu, chỉ cần số điện thoại của đối phương”, khi có khách hàng hỏi tìm hiểu về sản phẩm thì D sẽ giới thiệu về từng tính năng của sản phẩm với nội dung “Thiết bị bán có đầy đủ tính năng định vị, ghi âm, nghe lén 05 số điện thoại, đọc tin nhắn 05 số điện thoại với giá 1.900.000 đồng; Thiết bị bán có đầy đủ tính năng định vị, ghi âm, nghe lén 10 số điện thoại, đọc tin nhắn 10 số điện thoại với giá 2.900.000 đồng”. Khi khách hàng có nhu cầu mua thiết bị, D sẽ giới thiệu khách hàng liên hệ với tài khoản Zalo “Shop Công nghệ GPS 4.0” đăng ký số điện thoại 0562.194.xxx để Nguyệt tư vấn, giới thiệu cụ thể về tính năng của thiết bị. Khi khách hàng đặt mua thiết bị thì D và N1 sẽ gửi thiết bị qua dịch vụ vận chuyển COD (nhận hàng trước thanh toán sau) của Công ty Cổ phần B (V). Khi khách nhận được hàng và thanh toán tiền cho nhân viên giao hàng thì Viettel P sẽ chuyển khoản số tiền thu hộ vào tài khoản ngân hàng V2 số tài khoản 108867926947 mang tên Nguyễn Thị N1. Sau khi nhận thiết bị nếu khách hàng phản ánh không có tính năng định vị được số điện thoại của người khác, nghe lén cuộc gọi điện thoại của người khác, đọc được tin nhắn, tin nhắn Z, tin nhắn Facebook của số điện thoại khác như quảng cáo thì D và N1 sẽ huỷ kết bạn và chặn liên lạc, không trả lại tiền cho người mua. Trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2022 đến cuối tháng 02 năm 2024, D và N1 đã bán được 76 thiết bị nêu trên cho khách hàng.
Cơ quan điều tra đã tiến hành ủy thác điều tra, làm việc với những người đã mua thiết bị, kết quả đã xác định được ngoài anh Dương Quang T1, các đối tượng đã lừa đảo bán thiết bị cho 11 bị hại khác, gồm anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990 trú tại thôn E, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước; anh Phùng Văn K, sinh năm 1981 trú tại Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; anh Hồ Anh D1, sinh năm 1982 trú tại khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên; anh Trần Ngọc C, sinh năm 1976 trú tại thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; anh Trần Quốc H1, sinh năm 1981 trú tại thôn H, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình; anh Phạm Viết H6, sinh năm 1990 trú tại xóm D, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An; anh Nguyễn Ngọc H3, sinh năm 1979 trú tại khu B, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội; anh Châu Minh H4, sinh năm 1981 trú tại ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; anh Bùi Việt A, sinh năm 1984 trú tại TDP K, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; anh Hoàng Thế T2, sinh năm 1988 trú tại thôn M, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và anh Trương Văn H5, sinh năm 1981 trú tại thôn D, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Nguyễn Hữu D và Nguyễn Thị N1 đã chiếm đoạt của 12 bị hại số tiền 22.900.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Đối với 64 khách hàng còn lại, quá trình làm việc với 11 người mua khai chỉ mua thiết bị có tính năng định vị và đều sử dụng được thiết bị, không bị lừa đảo; 53 người mua không xác định được địa chỉ, không có mặt tại địa phương và chưa có kết quả ủy thác điều tra nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Quang T1, Nguyễn Thanh H, Hồ Anh D1, Trần Quốc H1, Nguyễn Ngọc H3, Châu Minh H4 yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 12.200.000 đồng; các bị hại khác không yêu cầu đề nghị bồi thường. Nguyễn Hữu D và Nguyễn Thị N1 đã bồi thường cho anh T1 số tiền 2.900.000 đồng, anh T1 đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Về vật chứng: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, loại Latitude 5580, màu đen quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu; các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Hữu D và Nguyễn Thị N1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên
Bản Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 11/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu D và Nguyễn Thị N1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo D và bị cáo N1 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Các bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố đúng người, đúng tội, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang rút một phần truy tố đối với các bị cáo, các bị cáo không phạm tội nhiều lần và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D từ 08 tháng tù đến 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 22 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 cây máy tính màu đen, phía trước có logo màu đỏ; 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh, có số IMEI: 354703752071762; IMEI 2: 354703752126194; 01 máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell, có mã ID: 68F37837-D2CF-414F-947E-96F02D989E2A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, IMEI: 356717086650677; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, IMEI: 354741660828949; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng, IMEI: 356143095102586; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng, có số IMEI: 359297068914745 và số tiền 10.700.000 đồng.
- Tich thu tiêu hủy: với 01 thiết bị GF-09, có số 869207032403942 (cùng hộp đựng, dây cáp sạc); 03 thiết bị điện tử màu đen; 03 hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có dòng ký tự “Silicon valley technology and stable quality”, bên trong mỗi hộp chứa 01 thiết bị màu đen, dạng hình hộp chữ nhật, trên bề mặt có ký tự “GF-09” và 01 đoạn dây cáp màu đen; 01 thiết bị màu đen, hình hộp chữ nhật, bên trong có lắp sim, số seri: 861261024406650; 01 chiếc hộp bìa cứng, hình hộp chữ nhật, bên ngoài có chữ GPS TRACKER, bên trong có 01 thiết bị hình hộp chữ nhật màu đen, có dãn nhãn ID(W): 8019450112; các mảnh giấy dán nền màu vàng, số màu đỏ in nhiều số điện thoại khác nhau; 01 quyển vớ có dòng kẻ, loại vở học sinh, ngoài bìa có chữ “ĐẠI HỌC HARVARD”, bên trong có nhiều chữ viết và chữ số; 01 quyển vở có ghi “BABY NOTEBOOK”
- Trả lại các bị cáo: 01 điện thoại Redmi Note 7, màu đỏ, số IMEI 1: 865131041908127; IMEI 2: 865131042808128; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu hồng, IMEI: 356142095101796; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đenIMEI: 863395054360367; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen, IMEI: 868486067893372/78; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu đen IMEI: 861609041713575; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu ghi, IMEI: 355678074635388; 01 cây máy tính phía trước ghi nhãn hiệu “GIPCO”, có mã ID: 0DA977D9-B2D3-4F1B-9095-606C9BFD4F9C; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung; 01 bàn phím và 01 (một) chuột máy tính; 01 cây máy tính màu đen nhãn hiệu VSP, mã ID: 850A884F-EDCB-4BAD-8EFE-1652837CC014; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG; 01 bàn phím; 01 chuột máy tính; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG, màu đen; 167 sim trắng và 25 vỏ sim; 11 thẻ Visa ACB tên LE THI HAI YEN, 10 thẻ Visa ACB tên PHAM THỊ HOAI; 02 thẻ Visa V1; 01 thẻ V1 mang tên NGUYEN HUU DUNG; số tiền 9.150.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Thanh H số tiền 1.900.000 đồng; anh Hồ Anh D1 số tiền 1.900.000 đồng; anh Trần Quốc H1 số tiền 1.900.000 đồng; anh Nguyễn Ngọc H3 số tiền 1.700.000 đồng và anh Châu Minh H4 số tiền 1.900.000 đồng. Các bị cáo đã nộp đủ số tiền trên để khắc phục hậu quả.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo D1, bị cáo N1 xin được hưởng án thấp nhất là án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về tố tụng: Tại phiên tòa, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người bị hại, người liên quan không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
3. Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo D1, bị cáo N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng cuối năm 2022, Nguyễn Hữu D và Nguyễn Thị N1 đăng bán thiết bị định vị trên các trang mạng xã hội Zalo, Facebook. Do muốn bán được nhiều thiết bị với giá cao nên D và N1 khi đăng bán thiết bị trên các trang mạng xã hội Zalo, Facebook đã tự thêm các tính năng vào thiết bị để bán được nhiều hàng. Sau khi khách hàng thanh toán tiền thì D và N1 sẽ chặn số điện thoại, hủy kết bạn để chiếm đoạt tiền của người mua. Trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2022 đến cuối tháng 02 năm 2024, D và N1 đã dùng thủ đoạn gian dối là tự thêm tính năng cho thiết bị định vị để lừa bán cho 12 bị hại, gồm anh Dương Quang T1, Nguyễn Thanh H, Phùng Văn K, Hồ Anh D1, Trần Ngọc C, Trần Quốc H1, Phạm Viết H6, Nguyễn Ngọc H3, Châu Minh H4, Bùi Việt A, Hoàng Thế T2, Trương Văn H5. Tổng số tiền D1 và N1 đã chiếm đoạt của các bị hại là 22.900.000 đồng, toàn bộ số tiền đã được thu hồi.
Như vậy, hành vi của Nguyễn Hữu D và Nguyễn Thị N1 đủ yếu tố cấu thành của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Việc các bị cáo bị truy tố, xét xử ngày hôm nay với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
4. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu, của anh Dương Quang T1 mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật. Cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
5. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo” các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Các bị cáo vì lợi ích kinh tế, muốn bán được thiết bị định vị với giá cao nên đã dùng thủ đoạn gian dối là tự thêm tính năng cho thiết bị định vị để lừa bán cho bị hại, thu lời bất chính. Các bị cáo có đầy đủ năng lực TNHS vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.
Qua đánh giá về mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra trên cơ sở xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, đã chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ TNHS; quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo; bị cáo N1 đang bị bệnh nặng và đang nuôi con nhỏ nên xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt tù cho bị cáo hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương giám sát, quản lý cũng đủ đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
6. Về vai trò của các bị cáo HĐXX thấy các bị cáo do không bán được hàng nên đã lên đăng trên Facbook thông tin giả mạo để lừa các đối tượng. Các bị cáo do là vợ chồng cùng là người thực hành nên được coi là đồng phạm giản đơn.
7. Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Đại diện VKS đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Do các bị cáo thu lời bất chính, nên HĐXX thấy cần áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Về mức án mà vị đại diện VKSND huyện Lục Nam đề nghị áp dụng, tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đối với 11 người gồm anh Nguyễn Thanh H, Phùng Văn K, Hồ Anh D1, Trần Ngọc C, Trần Quốc H1, Phạm Viết H6, Nguyễn Ngọc H3, Châu Minh H4, Bùi Việt A, Hoàng Thế T2, Trương Văn H5. Tổng số tiền D1 và N1 đã chiếm đoạt của các bị hại là 22.900.000 đồng. Số tiền của từng người không đủ định lượng truy tố bị cáo phạm tội nhiều lần, tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát rút phần truy tố các bị cáo phạm tội nhiều lần HĐXX chấp nhận việc rút truy tố tố các bị cáo phạm tội nhiều lần đối với các bị cáo của Viện kiểm sát và quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Đối với số tiền 22.900.000 đồng các bị cáo bán thiết bị cho 11 người thì có anh Nguyễn Thanh H yêu cầu bồi thường số tiền 1.900.000 đồng; anh Hồ Anh D1 yêu cầu bồi thường số tiền 1.900.000 đồng; anh Trần Quốc H1 yêu cầu bồi thường số tiền 1.900.000 đồng; anh Nguyễn Ngọc H3 yêu cầu bồi thường số tiền 1.700.000 đồng và anh Châu Minh H4 yêu cầu bồi thường số tiền 1.900.000 đồng các bị cáo đã nộp đủ còn những người khác không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét, còn lại số tiền 10.700.000₫ HĐXX thấy đây là số tiền thu lợi bất chính cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
8. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo phải trả lại cho anh Nguyễn Thanh H số tiền 1.900.000 đồng; anh Hồ Anh D1 số tiền 1.900.000 đồng; anh Trần Quốc H1 số tiền 1.900.000 đồng; anh Nguyễn Ngọc H3 số tiền 1.700.000 đồng và anh Châu Minh H4 số tiền 1.900.000 đồng. Các bị cáo đã nộp đủ số tiền trên để khắc phục hậu quả.
9. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Đối với các tài sản liên quan đến hành vi phạm tội như 01 cây máy tính màu đen, phía trước có logo màu đỏ; 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh, có số IMEI: 354703752071762; IMEI 2: 354703752126194; 01 máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell, có mã ID: 68F37837-D2CF-414F-947E-96F02D989E2A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, IMEI: 356717086650677; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, IMEI: 354741660828949; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng, IMEI: 356143095102586; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng, có số IMEI: 359297068914745 và số tiền 10.700.000 đồng thu lợi bất chính cần tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- Tich thu tiêu hủy: 01 thiết bị GF- 09, có số 869207032403942 (cùng hộp đựng, dây cáp sạc); 03 thiết bị điện tử màu đen; 03 hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có dòng ký tự “Silicon valley technology and stable quality”, bên trong mỗi hộp chứa 01 thiết bị màu đen, dạng hình hộp chữ nhật, trên bề mặt có ký tự “GF-09” và 01 đoạn dây cáp màu đen; 01 thiết bị màu đen, hình hộp chữ nhật, bên trong có lắp sim, số seri: 861261024406650; 01 chiếc hộp bìa cứng, hình hộp chữ nhật, bên ngoài có chữ GPS TRACKER, bên trong có 01 thiết bị hình hộp chữ nhật màu đen, có dãn nhãn ID(W): 8019450112; các mảnh giấy dán nền màu vàng, số màu đỏ in nhiều số điện thoại khác nhau; 01 quyển vớ có dòng kẻ, loại vở học sinh, ngoài bìa có chữ “ĐẠI HỌC HARVARD”, bên trong có nhiều chữ viết và chữ số; 01 quyển vở có ghi “BABY NOTEBOOK” vì liên quan đến việc phạm tội.
- Đối với các tài sản không liên quan đến việc phạm tội như 01 điện thoại Redmi Note 7, màu đỏ, số IMEI 1: 865131041908127; IMEI 2: 865131042808128; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu hồng, IMEI: 356142095101796; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đenIMEI: 863395054360367; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen, IMEI: 868486067893372/78; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu đen IMEI: 861609041713575; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu ghi, IMEI: 355678074635388; 01 cây máy tính phía trước ghi nhãn hiệu “GIPCO”, có mã ID: 0DA977D9-B2D3-4F1B-9095-606C9BFD4F9C; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung; 01 bàn phím và 01 (một) chuột máy tính; 01 cây máy tính màu đen nhãn hiệu VSP, mã ID: 850A884F-EDCB-4BAD-8EFE-1652837CC014; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG; 01 bàn phím; 01 chuột máy tính; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG, màu đen; 167 sim trắng và 25 vỏ sim; 11 thẻ Visa ACB tên LE THI HAI YEN, 10 thẻ Visa ACB tên PHAM THỊ HOAI; 02 thẻ Visa V1; 01 thẻ V1 mang tên NGUYEN HUU DUNG; số tiền 9.150.000 đồng cần trả lại các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
10. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
11. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 09 (chín) tháng tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 07 (báy) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
* Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo N1 và bị cáo D trả lại cho anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn E, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước số tiền 1.900.000 đồng; anh Hồ Anh D1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên số tiền 1.900.000 đồng; anh Trần Quốc H1, sinh năm 1981 Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình số tiền 1.900.000 đồng; anh Nguyễn Ngọc H3, sinh năm 1979. Địa chỉ: Khu B, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội số tiền 1.700.000 đồng và anh Châu Minh H4, sinh năm 1981.Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau số tiền 1.900.000 đồng. Các bị cáo đã nộp đủ số tiền trên để khắc phục hậu quả.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 cây máy tính màu đen, phía trước có logo màu đỏ; 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh, có số IMEI: 354703752071762; IMEI 2: 354703752126194; 01 máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell, có mã ID: 68F37837-D2CF-414F-947E-96F02D989E2A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, IMEI: 356717086650677; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, IMEI: 354741660828949; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng, IMEI: 356143095102586; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng, có số IMEI: 359297068914745 và số tiền 10.700.000 đồng.
- Tich thu tiêu hủy: với 01 thiết bị GF-09, có số 869207032403942 (cùng hộp đựng, dây cáp sạc); 03 thiết bị điện tử màu đen; 03 hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có dòng ký tự “Silicon valley technology and stable quality”, bên trong mỗi hộp chứa 01 thiết bị màu đen, dạng hình hộp chữ nhật, trên bề mặt có ký tự “GF-09” và 01 đoạn dây cáp màu đen; 01 thiết bị màu đen, hình hộp chữ nhật, bên trong có lắp sim, số seri: 861261024406650; 01 chiếc hộp bìa cứng, hình hộp chữ nhật, bên ngoài có chữ GPS TRACKER, bên trong có 01 thiết bị hình hộp chữ nhật màu đen, có dãn nhãn ID(W): 8019450112; các mảnh giấy dán nền màu vàng, số màu đỏ in nhiều số điện thoại khác nhau; 01 quyển vớ có dòng kẻ, loại vở học sinh, ngoài bìa có chữ “ĐẠI HỌC HARVARD”, bên trong có nhiều chữ viết và chữ số; 01 quyển vở có ghi “BABY NOTEBOOK”
- Trả lại các bị cáo: 01 điện thoại Redmi Note 7, màu đỏ, số IMEI 1: 865131041908127; IMEI 2: 865131042808128; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu hồng, IMEI: 356142095101796; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đenIMEI: 863395054360367; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen, IMEI: 868486067893372/78; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu đen IMEI: 861609041713575; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu ghi, IMEI: 355678074635388; 01 cây máy tính phía trước ghi nhãn hiệu “GIPCO”, có mã ID: 0DA977D9-B2D3-4F1B-9095-606C9BFD4F9C; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung; 01 bàn phím và 01 (một) chuột máy tính; 01 cây máy tính màu đen nhãn hiệu VSP, mã ID: 850A884F-EDCB-4BAD-8EFE-1652837CC014; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG; 01 bàn phím; 01 chuột máy tính; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG, màu đen; 167 sim trắng và 25 vỏ sim; 11 thẻ Visa ACB tên LE THI HAI YEN, 10 thẻ Visa ACB tên PHAM THỊ HOAI; 02 thẻ Visa V1; 01 thẻ V1 mang tên NGUYEN HUU DUNG; số tiền 9.150.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lự |
Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 28/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 64/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
