Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂY NINH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày 28-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng

Ông Nguyễn Thanh Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Dung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Hồng Vinh và bà Nguyễn Lê Trà G – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Kim Ngọc A, sinh năm 1982; nơi sinh: Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: Số E, Khu phố D, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện nay: Khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Thợ uốn tóc; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Trung K (đã chết) và bà Trịnh Thị N; chồng: Mai Đình T (đã ly hôn); con: 02 người, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo Kim Ngọc A bị tạm giữ ngày 13/10/2024, chuyển tạm giam ngày 22/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Kim Ngọc A: Luật sư Kim Thị H – thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T, có mặt tại phiên toà.

2. Lê Minh T1, sinh năm 1983; nơi sinh: Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Cao Đài; con ông Lê Văn T2 và bà Lê Thị Kim Á;

chồng: Đặng Hoàng G1; con: 02 người, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo Lê Minh T1 bị bắt tạm giam từ ngày 28/10/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt tại phiên toà.

3. Nguyễn Thị Cẩm T3, sinh năm 1978, nơi sinh: Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn R (đã chết) và bà Lê Thị T4; chồng: Võ Minh L; con: 02 người, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 bị tạm giữ ngày 13/10/2024, chuyển tạm giam ngày 22/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt tại phiên toà.

4. Nguyễn Bảo D, sinh năm 1994; nơi sinh: Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài; con ông Nguyễn Cà Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ở; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/02/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

5. Hồ Thị Ngọc N1, sinh năm 1985; nơi sinh: Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố E, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; con ông Hồ Phước H1 (đã chết) và bà Hồ Thị L1; chồng: Dương Thanh P; con: 02 người, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/02/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02/2024, Nguyễn Thị Cẩm T3 nhận trang web đánh bạc trực tuyến ag.wm555.net từ H2 (không rõ họ tên, địa chỉ) với tài khoản tên đăng nhập hui88877, mật khẩu abc123. Sau đó, do muốn hưởng lợi từ việc cắt trang chia cho người khác để lấy tiền hoa hồng, T3 đã cắt trang cho Kim Ngọc A tham gia đánh bạc trực tuyến với tên đăng nhập hui888771, mật khẩu ttt123, với hình thức Kim Ngọc A đưa tiền để T3 nạp vào tài khoản, đổi điểm tham gia, tương ứng 500 điểm là 9.000.000 đồng. Trong các ngày 04, 05, 09/10/2024, Ngọc A đã chuyển cho T3 tổng số tiền 81.000.000 đồng để nạp điểm 03 lần, mỗi lần 1500 điểm, tương ứng số tiền 27.000.000 đồng vào trang ag.wm555.net để Ngọc A tham gia đánh bạc, trong đó T3 được hưởng tiền hoa hồng 10%/số tiền nạp vào trang/tuần. Ngày 12/10/2024, Kim Ngọc A tiếp tục chuyển cho T3 số tiền 18.000.000 đồng và được T3 nạp 1000 điểm vào trang đánh bạc. Cùng ngày, T3

còn mua số đề của G2 (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 580.000 đồng.

Điều tra mở rộng, ngoài tham gia đánh bạc trên trang trực tuyến, Kim Ngọc A còn đánh bạc dưới hình thức mua bán số đề. Ngày 12/10/2024, Kim Ngọc A thông qua tin nhắn Zalo, SMS trên điện thoại di động đã bán số đề cho nhiều người, cụ thể:

- Nguyễn Bảo D mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết của 4 tỉnh miền N, trong đó: Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Hậu Giang với số tiền phơi đề là 90.000 đồng, không có số trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền phơi đề là 1.480.000 đồng, số 17 trúng 105.000 đồng, số 714 trúng 3.000.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 4.585.000 đồng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết B với số tiền phơi đề là 150.000 đồng, số 16 trúng 350.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 500.000 đồng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết L4 với số tiền phơi đề là 1.159.000 đồng, số 01 trúng hai lô 2.800.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 3.959.000 đồng.

Tổng cộng D đã mua số đề từ Kim Ngọc A các con số của 04 đài xổ số kiến thiết miền N với số tiền 2.879.000 đồng, trúng 6.255.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc với Kim Ngọc A là 9.134.000 đồng.

Ngoài ra, D còn nhắn tin mua số đề của Kim Ngọc A đối với 03 đài miền T: Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Đ1 với số tiền phơi đề là 5.786.000 đồng, mua số đề của đài xổ số kiến thiết Quảng Ngãi với số tiền phơi đề là 14.136.000 đồng, mua số đề của đài xổ số kiến thiết Đắk Nông với số tiền phơi đề là 5.786.000 đồng. Tổng cộng D đã mua số đề từ Kim Ngọc A các con số của 03 đài xổ số kiến thiết miền T với số tiền 25.708.000 đồng, thời điểm này Kim Ngọc A đã bị Cơ quan điều tra mời làm việc nên không xác nhận đối với các nội dung tin nhắn trên, chưa có kết quả xổ số.

- Võ Thị Hồng  mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Long An với tổng số tiền phơi đề là 1.606.000 đồng, số 88 trúng 700.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.306.000 đồng.

- Người sử dụng số điện thoại 0899.247.xxx (không xác định được chủ thuê bao) mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Long An và Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Long An với số tiền phơi đề là 9.943.000 đồng, số 41, 44, 98 trúng 8.610.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 18.553.000 đồng; Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền phơi đề là 9.943.000 đồng, số 41, 52 trúng 5.600.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 16.308.000 đồng.

Tổng cộng người này đã mua số đề từ Kim Ngọc A các con số của 02 đài xổ số kiến thiết tỉnh Long An và Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 19.886.000 đồng, trúng 14.210.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc với Kim Ngọc A là 34.096.000 đồng. Kim Ngọc A không xác nhận đối với tin nhắn số đề trên.

Cùng ngày, Kim Ngọc A còn bán số đề theo kết quả xổ số kiến thiết của 4 tỉnh miền N cho những người sau:

- Hồ Thị Ngọc N1 mua số đề của đài xổ số kiến thiết Hậu Giang với số tiền phơi đề là 514.000 đồng, số 17 trúng 1.610.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.124.000 đồng; Mua số đề đài xổ số kiến thiết Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền phơi đề là 514.000 đồng, số 17 trúng 1.610.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.124.000 đồng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết B với số tiền phơi đề là 514.000 đồng, không có số trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Long An với số tiền phơi đề là 1.944.000 đồng, không có số trúng.

Tổng cộng N1 đã mua số đề từ Kim Ngọc A các con số của 04 đài xổ số kiến thiết miền N với số tiền 3.486.000 đồng, trúng 3.220.000 đồng. Tổng số tiền N1 đánh bạc với Kim Ngọc A là 6.706.000 đồng.

- L (không rõ họ tên, địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0326.066.xxx mua số đề của đài xổ số kiến thiết Hậu Giang với số tiền phơi đề là 417.000 đồng, không có số trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền phơi đề là 2.100.000 đồng, không có số trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết B với số tiền phơi đề là 2.100.000 đồng, số B, 89 trúng 12.200.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.300.000 đồng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết L4 với số tiền phơi đề là 24.510.000 đồng, số 44, 01, 88, 05, 07 trúng 31.010.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 55.520.000 đồng.

Tổng cộng L đã mua số đề từ Kim Ngọc A các con số của 04 đài xổ số kiến thiết miền N với số tiền 29.127.000 đồng, trúng 43.210.000 đồng. Tổng số tiền L đánh bạc với Kim Ngọc A là 72.337.000 đồng.

- L1 (không rõ họ tên, địa chỉ) mua đề của đài xổ số kiến thiết Hậu Giang với số tiền phơi đề là 360.000 đồng, không có số trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết B với số tiền phơi đề là 360.000 đồng, không có số trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền phơi đề là 360.000 đồng, không trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Long An với số tiền phơi đề là 762.000 đồng, số 01 trúng hai lô 810.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.572.000 đồng.

Tổng cộng L1 đã mua số đề từ Kim Ngọc A các con số của 04 đài xổ số kiến thiết miền N với số tiền 1.842.000 đồng, trúng 810.000 đồng. Tổng số tiền L1 đánh bạc với Kim Ngọc A là 2.652.000 đồng.

Sau khi bán số đề cho người mua số đề, Kim Ngọc A tập hợp phơi gửi cho Lê Minh T1 mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết của 4 tỉnh miền N, cụ thể: Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Hậu Giang với số tiền phơi đề là 9.310.000 đồng, không có số trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền phơi đề là 23.454.000 đồng, không có số trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết B với số tiền phơi đề là 9.310.000 đồng, không có số trúng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Long An với số tiền phơi

đề là 28.484.000 đồng, số 66, 07 trúng 16.100.000 đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 44.584.000 đồng.

Tổng cộng Kim Ngọc A mua số đề của Lê Minh T1 các con số của 04 đài xổ số kiến thiết miền N với số tiền 70.558.000 đồng, trúng 16.100.000 đồng. Tổng số tiền Kim Ngọc A đánh bạc với Lê Minh T1 là 86.658.000 đồng.

Sau khi kết thúc kết quả xổ số các đài xổ số kiến thiết miền N, Lê Minh T1 còn nhắn tin cho Kim Ngọc A mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Đắk Nông (miền T), cụ thể: Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Đ1 với số tiền phơi đề là 11.601.000 đồng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Q với số tiền phơi đề là 12.501.000 đồng; Mua số đề của đài xổ số kiến thiết Đ2 với số tiền phơi đề là 12.660.000 đồng. Tổng cộng Lê Minh T1 đã mua số đề từ Kim Ngọc A các con số của 03 đài xổ số kiến thiết miền T với số tiền 36.762.000 đồng, thời điểm này Kim Ngọc A đã bị Cơ quan điều tra mời làm việc nên không xác nhận đối với các nội dung tin nhắn trên, chưa có kết quả xổ số.

Ngoài ra, Kim Ngọc A còn bán số đề cho những người khác nhưng số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng:

Ngày 07/10/2024, Kim Ngọc A bán số đề cho Nguyễn Thị Tuyết N2 theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp với số tiền phơi đề 804.000 đồng, không có số trúng.

Ngày 08/10/2024, bán số đề cho Nguyễn Thị Tuyết N2 theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu với số tiền phơi đề 842.000 đồng, không có số trúng; theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Quảng Nam, Đắk Lắk với số tiền phơi đề 252.000 đồng, không có số trúng.

Ngày 09/10/2024, bán số đề cho Nguyễn Thị Tuyết N2 theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Nai với số tiền phơi đề 410.000 đồng, không có số trúng.

Ngày 10/10/2024, Kim Ngọc A bán số đề cho Nguyễn Thị Tuyết N2 theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Tây Ninh với số tiền phơi đề là 1.400.000 đồng, không có số trúng; theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Quảng Trị, Bình Định, Quảng Bình với số tiền phơi đề là 648.000 đồng, trúng 600.000 đồng, số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 1.248.000 đồng. Bán số đề cho Nguyễn Thị Phượng L2 và Trần Thị Hồng L3 (hùn tiền cùng nhau mua số đề của Kim Ngọc A) theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Tây Ninh với số tiền phơi 1.080.000 đồng, không có số trúng. Bán số đề cho “Dì 3” theo kết quả xổ số kiến thiết 03 tỉnh An Giang, Bình Thuận, Tây Ninh với số tiền phơi đề là 720.000 đồng, trúng 700.000 đồng, số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 1.420.000 đồng. Tổng số tiền Kim Ngọc A dùng vào mục đích đánh bạc đài miền T là 1.248.000 đồng, đài miền N là 3.900.000 đồng.

Ngày 11/10/2024, Kim Ngọc A bán số đề cho “Dì 3” theo kết quả xổ số kiến thiết 03 tỉnh Bình Dương, Trà Vinh, Vĩnh Long với số tiền 744.000 đồng, không có số trúng.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

- Của Kim Ngọc A:

  • + Tiền Việt Nam: 3.400.000 đồng;
  • + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI: 358457886786912;
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo A95, màu đen, số IMEI 1: 869929059760454, IMEI 2: 869929059760447.

- Của Nguyễn Thị Cẩm T3:

  • + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, bị vỡ mặt lưng và màn hình, số IMEI 1: 356514411186265, IMEI 2: 356514411008865;
  • + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia Model: TA-1538, màu đen, số IMEI 1: 358589290761170, IMEI 2: 3585892907611188.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã kê biên thửa đất số 381, tờ bản đồ số 18, diện tích 693,4m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DN 594885, số vào sổ VP11714 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đối với Kim Ngọc A; thửa đất số 53, tờ bản đồ số 88, diện tích 112m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 716608, số vào sổ CS12417 tại Khu phố E, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh đối với Nguyễn Thị Cẩm T3; thửa đất số 423, tờ bản đồ số 55, diện tích 313,7m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DQ 550975, số vào sổ CN18887 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đối với Lê Minh T1; thửa đất số 597, tờ bản đồ số 5, diện tích 495m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CV 744401, số vào sổ CS1291 tại ấp B, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh đối với Nguyễn Bảo D.

Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSTPTN ngày 08-4-2025 của VKSND thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Kim Ngọc A về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Lê Minh T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Bảo D, Hồ Thị Ngọc N1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh rút một phần truy tố đối với bị cáo Kim Ngọc A về số tiền đánh bạc với người có số điện thoại 0899.247.xxx là 34.096.000 đồng, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Kim Ngọc A phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Lê Minh T1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều

321 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Bảo D, Hồ Thị Ngọc N1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt chính:

  1. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Kim Ngọc A từ 02 năm đến 03 năm tù.
  2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 từ 02 năm đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
  3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh T1 từ 02 năm đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
  4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo D từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
  5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung bị cáo Kim Ngọc A, Nguyễn Thị Cẩm T3, Lê Minh T1 mỗi bị cáo từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo D từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 do không có tài sản.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa của bị cáo Kim Ngọc A là Luật sư Kim Thị H trình bày lời bào chữa:

Thống nhất với Cáo trạng và lời buộc tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tuyên bố bị cáo Kim Ngọc A phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b, c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Thống nhất với đề xuất của Kiểm sát viên về các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Kim Ngọc A có nhân thân tốt, là mẹ đơn thân phải nuôi 02 con nhỏ, là lao động chính trong gia đình; gia đình có công với cách mạng; bản thân bị cáo đang điều trị bệnh tim và bệnh hen suyễn nặng; bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 13/10/2024 cho đến nay; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Kim Ngọc A cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh – Kiểm sát viên Lê Xuân Hồng V trình bày tranh luận: Bị cáo Kim Ngọc A đánh bạc với 02 hình thức, vừa đánh bài qua mạng vừa ghi số đề với nhiều người; việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là không đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; Viện Kiểm sát đã cân nhắc tất cả các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị mức hình phạt phù hợp.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

- Bị cáo Kim Ngọc A: Bị cáo đã ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình có con nhỏ cần nuôi dưỡng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo lao động chân chính lo cho gia đình.

- Bị cáo T3: Bị cáo đã ăn năn hối cải, có mẹ già cần chăm sóc, xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ cho bị cáo lao động chân chính, lo cho gia đình.

- Bị cáo T1: Bị cáo đã ăn năn hối cải, có mẹ già cần chăm sóc, xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ cho bị cáo lao động chân chính, lo cho gia đình.

- Bị cáo D: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, ăn năn hối cải, xin Hội đông xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo N1: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, ăn năn hối cải, xin Hội đông xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận:

[2.1] Trong các ngày 04, 05, 09/10/2024 và 12/10/2024, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 cắt trang mạng đánh bạc ag.wm555.net giao cho bị cáo Kim Ngọc A và nhận tiền của bị cáo Ngọc A nạp vào tài khoản tham gia đánh bạc với tổng số tiền 99.000.000 đồng.

[2.2] Vào ngày 12/10/2024, bị cáo Kim Ngọc A tham gia đánh bạc dưới hình thức mua bán số đề đài miền N với nhiều người, tổng số tiền thắng thua là 179.793.000 đồng. Bị cáo Lê Minh T1 đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề

với bị cáo Kim Ngọc A đài miền N tổng số tiền thắng thua là 86.658.000 đồng, đài miền T số tiền 36.762.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Bảo D đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với bị cáo Kim Ngọc A đài miền N tổng số tiền thắng thua là 9.134.000 đồng, đài miền T số tiền 25.708.000 đồng. Bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với bị cáo Kim Ngọc A đài miền N tổng số tiền thắng thua là 6.706.000 đồng.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các Tờ giải phơi đề, Kết luận giám định, các biên bản đối chất.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Kim Ngọc A đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Lê Minh T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Bảo D và Hồ Thị Ngọc N1 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đối với phơi đề đài miền T của bị cáo D và bị cáo T1 gửi cho bị cáo Ngọc A sau thời điểm bị cáo Ngọc A đã bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T mời làm việc, thu giữ điện thoại di động, bị cáo Ngọc A không biết và không xác nhận phơi đề đài miền T5 nên Viện Kiểm sát không xác định số tiền giải phơi đề đài miền T5 là tiền đánh bạc của bị cáo Ngọc A là có căn cứ.

Đối với số tiền đánh bạc với người có số điện thoại 0899.247.xxx là 34.096.000 đồng, bị cáo Ngọc A chưa xác nhận, quá trình điều tra cũng không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát rút một phần truy tố là có căn cứ.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật.

[4] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng:

+ Các bị cáo Kim Ngọc A, Lê Minh T1, Nguyễn Thị Cẩm T3, Nguyễn Bảo D thực hiện hành vi đánh bạc nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

+ Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo Kim Ngọc A là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ; có cậu ruột là ông Trịnh Văn T6 là liệt sĩ; có chị ruột Kim Thị H có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác; hiện bị cáo đang điều trị bệnh nặng nên xem xét đây là các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 tự nguyện tác động gia đình nộp lại tiền thu lợi bất chính nên xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo T1 có bác ruột là ông Lê Văn T7 có công với cách mạng, tự tụyên tác động gia đình nộp lại tiền dùng vào việc đánh bạc nên xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo D ra đầu thú nên xem xét cho bị cáo D hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về áp dụng hình phạt:

Trong vụ án này, tổng số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng, tuy nhiên mỗi lần đánh bạc của các bị cáo đều dưới 50.000.000 đồng, chưa thực hiện giao dịch chung chi thắng thua; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Kim Ngọc A, Nguyễn Thị Cẩm T3, Lê Minh T1 dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng trong khung hình phạt liền kề cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo.

Các bị cáo có vai trò khác nhau trong vụ án nên cần cá thể hoá hành vi, xem xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo để áp dụng hình phạt, cụ thể:

[5.1] Bị cáo Kim Ngọc A tham gia đánh bạc với 02 hình thức là đánh bài cào trực tuyến qua tài khoản hui88771.net trên trang mạng đánh bạc ag.wm555.net và mua bán số đề với nhiều người trong cùng một ngày; cấu thành hai tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5.2] Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 giúp sức cho bị cáo Kim Ngọc A đánh bài qua mạng để hưởng tiền hoa hồng, cụ thể cắt trang mạng cho Kim Ngọc A trực tiếp đánh bạc, giúp bị cáo Kim Ngọc A nạp tiền vào tài khoản đánh bạc để hưởng lợi 10% trên số tiền Kim Ngọc A đánh bạc. Bị cáo Lê Minh T1 mua bán

số đề với Kim Ngọc A, số tiền mua bán số đề nhỏ hơn Kim Ngọc A. Do đó, xử phạt bị cáo T3 và bị cáo T1 mức án bằng nhau.

Bị cáo T3, bị cáo T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, số lượng tình tiết giảm nhẹ nhiều hơn hai tình tiết; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; đã bị tạm giam từ tháng 10 năm 2024 đến nay; việc tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết; các bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5.3] Bị cáo Nguyễn Bảo D và bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 tham gia đánh bạc với số tiền nhỏ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo D đánh bạc số tiền nhiều hơn bị cáo N1 nên xử phạt bị cáo D cao hơn bị cáo N1.

Bị cáo D, bị cáo N1 không có việc làm, không có thu nhập nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Bị cáo D, bị cáo N1 đang trong độ tuổi lao động, không có việc làm ổn định, không thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng. Do đó, buộc bị cáo D, bị cáo N1 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

[6] Về áp dụng hình phạt bổ sung:

Các bị cáo phải nộp lại tiền dùng vào việc đánh bạc, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không cần thiết nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

- Tịch thu của Kim Ngọc A 02 điện thoại di động sử dụng liên quan đến việc đánh bạc. Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.400.000 đồng của bị cáo Kim Ngọc A để đảm bảo việc thi hành án.

- Tịch thu 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max của bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 sử dụng liên quan đến việc đánh bạc; trả lại cho bị cáo T3 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia Model không liên quan đến việc phạm tội.

- Buộc các bị cáo nộp lại tiền dùng vào việc đánh bạc, cụ thể:

+ Bị cáo Kim Ngọc A ghi số đề với bị cáo D, bị cáo N1, Võ Hồng Â, người tên L, L1 tổng số tiền là 38.940.000 đồng; ghi số đề với bị cáo T1 đài miền N tổng số tiền là 70.558.000 đồng. Bị cáo Ngọc A thừa nhận dùng tiền cá nhân để ghi số đề với T1 là 31.618.000 đồng nên cần buộc bị cáo Kim Ngọc A nộp lại số tiền 31.618.000 đồng.

+ Bị cáo T1 phải nộp lại số tiền ghi số đề đài miền T là 36.762.000 đồng.

+ Bị cáo Kim Ngọc A đã thanh toán chuyển khoản tiền đánh bài qua mạng cho bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 là 99.000.000 đồng nên buộc bị cáo T3 nộp lại số tiền 99.000.000 đồng.

+ Bị cáo Nguyễn Bảo D chưa thanh toán tiền ghi số đề với Kim Ngọc A là 28.587.000 đồng nên buộc D nộp lại số tiền 28.587.000 đồng;

+ Bị cáo N1 chưa thanh toán tiền ghi số đề với Kim Ngọc A là 3.486.000 đồng nên buộc bị cáo N1 nộp lại số tiền 3.486.000 đồng.

- Việc tạm ngừng giao dịch các tài khoản của các bị cáo không còn cần thiết nên huỷ bỏ nội dung tạm ngừng giao dịch các tài khoản của các bị cáo Kim Ngọc A, Nguyễn Thị Cẩm T3 trong văn bản của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T.

- Tiếp tục duy trì các lệnh kê biên tài sản đến khi các bị cáo thi hành án xong các nghĩa vụ tài chính của bản án này.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu mỗi người 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với Võ Thị Hồng Â, Nguyễn Thị Tuyết N2, Nguyễn Thị Phượng L2, Trần Thị Hồng L3 có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T chuyển hồ sơ đến Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là có căn cứ.

Đối với người tên L, L1, “Dì 3", người sử dụng số điện thoại 0899.247.xxx mua số đề của Kim Ngọc A, người tên H2 cung cấp trang web đánh bạc và người tên G2 bán số đề cho Nguyễn Thị Cẩm T3 chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Kim Ngọc A phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Minh T1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Bảo D và Hồ Thị Ngọc N1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

1.1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Kim Ngọc A 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 13/10/2024.

1.2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 đang bị tạm giam, nếu bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 không bị tạm giam về một tội phạm khác.

1.3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Minh T1 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lê Minh T1 đang bị tạm giam, nếu bị cáo Lê Minh T1 không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 cho Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Lê Minh T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

1.4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo D 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Bảo D cho Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Nguyễn Bảo D.

Buộc bị cáo Nguyễn Bảo D phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

1.5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 cho Ủy ban nhân dân Phường A1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường A1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Hồ Thị Ngọc N1.

Buộc bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI: 358457886786912;
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo A95, màu đen, số IMEI 1: 869929059760454, IMEI 2: 869929059760447.
  • + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, bị vỡ mặt lưng và màn hình, số IMEI 1: 356514411186265, IMEI 2: 356514411008865;
  • + Buộc bị cáo Kim Ngọc A nộp lại số tiền dùng vào việc đánh bạc là 31.618.000 (ba mươi mốt triệu, sáu trăm mười tám nghìn) đồng;
  • + Buộc bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 nộp lại số tiền dùng vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính là 99.000.000 (chín mươi chín triệu) đồng, được khấu trừ số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng theo Biên lai thu số: 0001293 ngày 24-4-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 còn phải tiếp tục nộp số tiền 49.000.000 (bốn mươi chín triệu) đồng.
  • + Buộc bị cáo Lê Minh T1 nộp lại số tiền dùng vào việc đánh bạc là 36.762.000 (ba mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn) đồng.
  • + Buộc bị cáo Nguyễn Bảo D nộp lại tiền dùng vào việc đánh bạc là 28.587.000 (hai mươi tám triệu, năm trăm tám mươi bảy nghìn) đồng;
  • + Buộc bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 nộp lại tiền dùng vào việc đánh bạc là 3.486.000 (ba triệu, bốn trăm tám mươi sáu nghìn) đồng.

- Huỷ bỏ việc tạm ngừng giao dịch tài khoản số [...], chủ tài khoản Kim Ngọc A tại Ngân hàng TMCP Q1 theo Văn bản số 4024/YC-CHS ngày 14-10-2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T.

- Huỷ bỏ việc tạm ngừng giao dịch tài khoản số 15252526868, chủ tài khoản Kim Ngọc A tại Ngân hàng TMCP Q2 theo Văn bản số 4031/YC-CHS ngày 14-10-2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T.

- Huỷ bỏ việc tạm ngừng giao dịch tài khoản số 0000199996768, chủ tài khoản Nguyễn Thị Cẩm T3 tại Ngân hàng TMCP Q2 theo Văn bản số 4025/YC-CHS ngày 14-10-2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T.

- Tiếp tục duy trì các lệnh kê biên tài sản sau:

  • + Lệnh kê biên tài sản số: 75/LKB-CSHS ngày 19-02-2025 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T đối với quyền sử dụng đất thửa số 381, TBĐ số 18, diện tích 693,4m², toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DN 594885, số vào sổ VP11714 cho đến khi bị cáo Kim Ngọc A thực hiện xong nghĩa vụ tài chính của bản án này.
  • + Lệnh kê biên tài sản số: 76/LKB-CSHS ngày 19-02-2025 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T đối với quyền sử dụng đất thửa số 53, TBĐ số 88, diện tích 112m², toạ lạc tại Khu phố E, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 716608, số vào sổ CS12417 cho đến khi bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 thực hiện xong nghĩa vụ tài chính của bản án này.
  • + Lệnh kê biên tài sản số: 77/LKB-CSHS ngày 19-02-2025 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 423, TBĐ số 55, diện tích 313,7m², toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DQ 550975, số vào sổ CN18887 cho đến khi bị cáo Lê Minh T1 thực hiện xong nghĩa vụ tài chính của bản án này.
  • + Lệnh kê biên tài sản số: 133/LKB-CSHS ngày 05-3-2025 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T đối với quyền sử dụng đất thửa số 597, TBĐ số 5, diện tích 495m² toạ lạc tại ấp B, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CV 744401, số vào sổ CS1291 cho đến khi bị cáo Nguyễn Bảo D thực hiện xong nghĩa vụ tài chính của bản án này.
  • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.400.000 (ba triệu bốn trăm nghìn) đồng của bị cáo Kim Ngọc A cho đến khi bị cáo Kim Ngọc A thực hiện xong nghĩa vụ tài chính của bản án này.

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV. TA tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thành phố Tây Ninh;
  • - Sở Tư pháp Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS thành phố Tây Ninh;
  • - Phòng PV 06;
  • - Thi hành án HS.
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hồ Thị Bảo Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về tội đánh bạc

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: rong các ngày 04, 05, 09/10/2024 và 12/10/2024, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T3 cắt trang mạng đánh bạc ag.wm555.net giao cho bị cáo Kim Ngọc A và nhận tiền của bị cáo Ngọc A nạp vào tài khoản tham gia đánh bạc với tổng số tiền 99.000.000 đồng. Vào ngày 12/10/2024, bị cáo Kim Ngọc A tham gia đánh bạc dưới hình thức mua bán số đề đài miền N với nhiều người, tổng số tiền thắng thua là 179.793.000 đồng. Bị cáo Lê Minh T1 đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với bị cáo Kim Ngọc A đài miền N tổng số tiền thắng thua là 86.658.000 đồng, đài miền T số tiền 36.762.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Bảo D đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với bị cáo Kim Ngọc A đài miền N tổng số tiền thắng thua là 9.134.000 đồng, đài miền T số tiền 25.708.000 đồng. Bị cáo Hồ Thị Ngọc N1 đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với bị cáo Kim Ngọc A đài miền N tổng số tiền thắng thua là 6.706.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger