Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - AN GIANG

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày 20 tháng 11 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Yến và bà Lê Thị Thanh Vân
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhuần là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi là Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Phan Văn N, sinh ngày 02/6/1997 tại phường M, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số G, khóm L, phường M, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ học vấn: 09/12; con ông Phan Văn P, sinh năm 1972 và bà Trương Thị N1, sinh năm 1977; có 02 anh em, bị cáo thứ nhất; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực L (nay là P1 trại tạm giam Chợ M) từ ngày 26 tháng 8 năm 2025 đến nay, có mặt.

- Người làm chứng: ông Phan Văn P (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 04 tháng 7 năm 2025, Phan Văn N nằm võng tại nhà số G, khóm L, phường M, tỉnh An Giang, thì ông Phan Văn P (cha của N) nghi vấn Nhãn có biểu hiện sử dụng ma tuý, nên kiểm tra túi quần ngắn màu xanh bên phải của N đang mặc, phát hiện 01 gói nilon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 đầu có rãnh kẹp bên trong có chất tinh thể màu trắng nghi vấn là ma tuý, nên ông P đem đến Công an phường M trình báo. Đến 16 giờ 40 phút cùng ngày, N đến Công an phường M đầu thú khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Nên lực lượng Công an lập biên bản thu giữ vật chứng.

* Kết luận giám định số 136/KL-KTHS ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh A: 01 phong bì màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn T, Phan Văn N, Trương Công G, Đoàn Tấn Đ, Phan Văn P và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Công an phường M, Công an tỉnh A, bên trong có 01 gói nilon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 đầu có rãnh kẹp, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,2716 gam.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng: 01 phong bì được niêm phong ký hiệu vụ số 1073/2025 bên trong có chứa chất ma tuý còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y15s màu xanh có gắn sim số 0356054864; 01 quần ngắn màu xanh của Phan Văn N.

Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKSKV9 ngày 03 tháng 11 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang đã truy tố Phan Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên.

Người làm chứng Phan Văn P quá trình điều tra và tại phiên toà trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 để xử phạt Phan Văn N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: số lượng ma tuý còn lại sau giám định và 01 cái quần ngắn màu xanh. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động.

Bị cáo N không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Bị cáo Phan Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 04 tháng 7 năm 2025, Phan Văn N tàng trữ trái phép 0,2716 gam Methamphetamine là chất ma túy để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sunhg năm 2025 có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Đối với Phan Văn N khai ma tuý bị thu giữ do Nguyễn Thanh B cho, nhưng B không thừa nhận, ngoài lời khai của N không còn chứng cứ khác. Hiện B không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh A tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

[3] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, cần xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn thoả mãn cơn nghiện mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đến công an phường đầu thú về hành vi phạm tội là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo N không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt nhưng hành vi phạm tội là nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo một thời gian như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: 01 phong bì được niêm phong có chứa chất ma tuý còn lại sau giám định là chất cấm, 01 cái quần ngắn có liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ, 01 điện thoại di động bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo Nhãn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025; xử phạt bị cáo Phan Văn N 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 26/8/2025).

Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong ký hiệu vụ số 1073/2025 bên trong có chứa chất ma tuý còn lại sau giám định, 01 quần ngắn màu xanh. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y15s màu xanh có gắn sim số 0356054864;

(Đặc điểm vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2025 của Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 9 - An Giang)

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Phan Văn N phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 9 – An Giang;
  • - Phân trại tạm giam KVCM (PC11);
  • - Phòng THADS KV9 – An Giang;
  • - Bộ phận THA.HS;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thế Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger