Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 14

ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày 19/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Sáu và bà Đỗ Thị Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trúc Quỳnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vi Phương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Hoàng Văn H – sinh ngày 14/10/1991 tại Nghệ An: Nơi thường trú: Xóm B, xã Đ, tỉnh Nghệ An; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không, Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N (chết), bà Phan Thị M, sinh năm 1963; vợ, con: chưa có; anh chị em ruột: 03 người; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T4; Có mặt tại phiên tòa.

2/ Võ Huy C – sinh ngày 20/7/1995 tại Nghệ An; Nơi thường trú: Xóm N, xã Đ, tỉnh Nghệ An; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Huy G, sinh năm 1974, mẹ ruột: không xác định được, mẹ kế: Hà Thị T; vợ, con: chưa có; anh chị em ruột: 02 người; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T4; Có mặt tại phiên tòa.

3/ Trần Văn T1 – sinh ngày 23/10/1987 tại Nghệ An; Nơi thường trú: Xóm A, xã Q, tỉnh Nghệ An; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2, sinh năm 1964, bà Cao Thị T3, sinh năm 1964, có vợ tên Nguyễn Thị N1, sinh năm 1988 và 02 con, sinh năm 2010 và 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/11/2013, bị TAND huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án tại Bản án sơ thẩm số 41/2013/HSST ngày 06/11/2013, đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T4; Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Công ty TNHH H2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Đình H1 – sinh năm 1978 (CCCD số [...]), địa chỉ: thôn D, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị R – sinh năm 1977, địa chỉ: Khu phố T, phường X, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 09/10/2024, Hoàng Văn H, Võ Huy C và Trần Văn T1 là công nhân làm thuê tại công trình thi công cống hộp và hầm chui dân sinh (Km58+680 đến Km60+250) dự án cao tốc Bắc-Nam thuộc thôn C, xã T, tỉnh Đắk Lắk do Công ty TNHH H2 làm chủ thầu – ông Ngô Đình H1 là giám đốc, quản lý điều hành. Vì ông H1 nợ tiền công lâu ngày chưa trả, nên lợi dụng lúc ông H1 không có mặt tại công trình, H đã rủ C và T1 cùng nhau lấy trộm tài sản của ông H1 để tại lán trại bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Cụ thể, H và C thuê xe ô tô tải dọc đường (không xác định được nhân thân lái xe) đến khu vực công trình rồi cả ba cùng nhau lén lút lấy khoảng 12-13 chân giàn giáo, 07-08 tấm khuôn phẳng, 03-04 tấm khuôn vát, 02 thanh hộp, tổng cộng khoảng hơn 01 tấn đưa lên xe tải. Sau đó T1 ở lại lán trại, H và C điều khiển xe mô tô đi cùng xe tải đến tiệm phế liệu “Mười Thúy” của bà Lê Thị R, tại khu phố T, phường X, tỉnh Đắk Lắk bán được số tiền 5.300.000 đồng (giá 5000đồng/kg).

Với phương thức tương tự, khoảng 20 giờ ngày 10/10/2024, H, C và T1 tiếp tục lén lút lấy chân giàn giáo, khuôn vát, khuôn phẳng, thanh hộp với khối lượng khoảng 01 tấn đưa lên xe tải, rồi H và C điều khiển xe mô tô đi cùng xe tải đến tiệm phế liệu “Mười Thúy” bán được số tiền 5.000.000 đồng (giá 5000đồng/kg). Sau đó, H và C cùng xe tải quay lại lán trại tiếp tục lén lút lấy chân giàn giáo, khuôn vát, khuôn phẳng, thanh hộp với khối lượng khoảng 01 tấn bán cho tiệm phế liệu “Mười Thúy” với được số tiền 5.000.000 đồng (giá 5000 đồng/kg). Tổng cộng, H, C và T1 lén lút lấy và bán cho tiệm “Mười Thúy”: 29 chân giàn giáo bằng kim loại dạng ống đường kính 06cm, dày 05mm, có kích thước (1,83x1,27)m, khối lượng 33kg/01 chân; 06 thanh hộp làm bằng kim loại, bốn cạnh hình trụ dài 3,43m, mỗi cạnh dài 10cm, khối lượng 23kg/01 thanh; 26 tấm khuôn vát bằng kim loại, mỗi tấm dài 02m, kích thước vát 02 bên lần lượt là 42,5cm và 24,5cm, khối lượng 68kg/01 tấm; 01 tấm khuôn vát bằng kim loại, dài 02m, kích thước vát 02 bên lần lượt là 42,5cm và 19,5cm, khối lượng 76kg/01 tấm; 19 tấm khuôn phẳng bằng kim loại, mỗi tấm có kích thước (02x01)m, khối lượng 85kg/01 tấm; 01 tấm khuôn phẳng bằng kim loại, mỗi tấm có kích thước (02x0,8)m, khối lượng 61kg/01 tấm. Số tiền bán được tổng cộng 15.300.000 đồng, cả 03 chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tiếp đó cùng ngày 10/10/2024, H thuê xe ba gác (không xác định được nhân thân lái xe) đến lán trại, cả ba lén lút lấy trộm 09 bình gió đá (bình khí oxy); 01 máy hàn điện ba pha, kích thước (58x48x36)cm, không có nhãn hiệu và 03 đoạn dây điện (một đoạn dây điện hàn, dài 16,4m, đường kính 1,2cm; một đoạn dây điện hàn, được chấp nối, dài 28,4m, đường kính 1,2cm và một đoạn dây điện, được chấp nối, dài 43,2m, đường kính 1,2cm) đưa lên xe ba gác, rồi H dẫn xe ba gác đem cất giấu để tiếp tục tiêu thụ, nhưng bị phát hiện nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 16/01/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T (cũ) kết luận tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 56.404.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSKV14 ngày 03/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk truy tố các bị cáo Hoàng Văn H, Võ Huy C, Trần Văn T1 tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và đề nghị:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn H, Võ Huy C và Trần Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173; áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54, Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Hoàng Văn H từ 18 – 21 tháng tù, Võ Huy C từ 15 – 18 tháng tù và Trần Văn T1 từ 12 – 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
  • - Về biện pháp tư pháp: Buộc các bị cáo Hoàng Văn H, Võ Huy C và Trần Văn T1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 15.300.000 đồng vào ngân sách nhà nước.
  • - Về vật chứng vụ án: Đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định. Các điện thoại di động bị tạm giữ là đồ vật cá nhân, không liên quan đến tội phạm nên hoàn trả cho các bị cáo.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà vắng mặt: người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tội danh: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo Hoàng Văn H, Võ Huy C, Trần Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ ngày 09/10/2024 và ngày 10/10/2024, tại khu vực lán trại công trình thi công dự án đường C thuộc thôn C, xã T, tỉnh Đắk Lắk, Hoàng Văn H đã rủ Võ Huy C và Trần Văn T1 bàn bạc cùng nhau lén lút 04 lần trộm cắp tài sản của Công ty TNHH H2 do ông Ngô Đình H1 làm giám đốc với tổng giá trị tài sản trộm cắp được xác định là 56.404.000 đồng. Hành vi của các bị cáo H, C và T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[2.2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện 04 lần trộm cắp, mỗi lần đều đủ định lượng cấu thành tội phạm. Trong đó, bị cáo T1 đã từng bị Tòa án xử phạt tù cho hưởng án treo. Nên cần phải xử phạt mỗi bị cáo một mức án tương xứng với nhân thân, tính chất và mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, cao hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[2.3] Xét, các bị cáo liên tục trộm cắp 04 lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi bị Cơ quan điều tra triệu tập làm việc các bị cáo đã thống nhất tự nguyện giao nộp các tài sản trộm cắp chưa tiêu thụ, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình các bị cáo đều có công cách mạng, bị cáo C có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nguyên nhân phạm tội bộc phát nhất thời vì lý do bị hại chưa trả tiền công cho các bị cáo theo thời hạn đã thỏa thuận, trong khi các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn đi xa làm thuê cho bị hại. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, nên áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện tội phạm của mỗi bị cáo. Trong đó, bị cáo H là người khởi xướng nên có mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất, nay không có yêu cầu bồi thường; bà Lê Thị R không có yêu cầu về số tiền 15.300.000 đồng; nên Hội đồng xét xử không xem xét. Theo tinh thần hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Văn bản số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 về việc trao đổi nghiệp vụ thì không tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 15.300.000 đồng.

[2.5] Về vật chứng vụ án: Các điện thoại di động bị tạm giữ là đồ vật cá nhân, không liên quan đến tội phạm nên hoàn trả cho các bị cáo.

[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136, Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn H, Võ Huy C, Trần Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 22/8/2025.

Bị cáo Võ Huy C 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 22/8/2025.

Bị cáo Trần Văn T1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 26/9/2025.

Về vật chứng vụ án:

  • - Hoàn trả cho bị cáo Hoàng Văn H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen, Imei 1: 860870076829261, Imei 2: 860870076829279, bên trong có gắn sim số 0584678878 (đã qua sử dụng).
  • - Hoàn trả cho bị cáo Võ Huy C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50s, Imei 1: 352049112244174, Imei 2: 352050112244172, bên trong có gắn sim số 0345560442 (đã qua sử dụng).
  • - Hoàn trả cho bị cáo Trần Văn T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, Imei 1: 866781055098519, Imei 2: 866781055098501, bên trong có gắn sim số 0352464891 (đã qua sử dụng).

Các đặc điểm của vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Phòng thi hành án dân sự khu vực 14 – tỉnh Đắk Lắk ngày 04 tháng 11 năm 2025.

Về án phí: Các bị cáo Hoàng Văn H, Võ Huy C, Trần Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Cơ quan thi hành án dân sự;
  • - Công an cấp xã nơi cư trú bị cáo;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Việt Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – ĐẮK LẮK về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 22/8/2025. Bị cáo Võ Huy C 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 22/8/2025. Bị cáo Trần Văn T1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 26/9/2025.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger