Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày 16-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH

***

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thanh.
  2. Ông Nguyễn Quang Vinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huấn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/12/2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm 1990. Tên gọi khác: Không có. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H1, sinh năm 1966 (đã chết) và bà Phạm Thị T, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là Nông Thị H2, sinh năm 1991 và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015.

Nhân thân:

  • +) Bản án số 54/2014/HSST ngày 19/11/2014 Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phí và tiền phạt bổ sung tháng 2/2018.
  • +) Ngày 04/3/2019 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền (số tiền 1.500.000 đồng) về hành vi “Sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản”.
  • +) Bản án số 16/2019/HSST ngày 17/4/2019 Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2

Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2020, tiền án phí và bồi thường dân sự ngày 12/8/2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh B. Có mặt.

- Bị hại: UBND xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn M, chức vụ: Chủ tịch UBND xã T. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Minh K, chức vụ: Chuyên viên Phòng Kinh tế xã T, tỉnh Bắc Ninh (theo Giấy ủy quyền ngày 13/10/2025). Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  2. Chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Giáp Văn C, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  2. Ông Giáp Văn S, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  3. Ông Ngô Văn H3, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 7/2025, Phạm Văn H, sinh năm 1990 trú tại thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh đi làm thuê tại thôn D, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình làm việc H phát hiện đoạn đường tỉnh lộ 293B (tuyến đường Đ đi A cũ) có hệ thống đèn đường chiếu sáng do UBND xã T quản lý nhưng chưa đấu nối điện. Khoảng 20 giờ ngày 15/8/2025, để có tiền chi tiêu cá nhân Phạm Văn H mang theo kìm cộng lực, xà cầy, dao và bao tải dứa rồi H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát (BKS) 98C1 - 171.60 đi từ nhà đến đoạn đường trên, mục đích để trộm cắp dây cáp điện. Đến nơi, H dựng xe mô tô BKS 98C1- 171. 60 ở bờ ruộng, cách mép đường tỉnh lộ 293B khoảng 20 m rồi H cầm theo các dụng cụ đã chuẩn bị đi bộ đến phía các cột đèn đường. Quan sát không có người, H dùng xà cầy đào đất ở cạnh chân các cột đèn đường ký hiệu 05-L1/T5, 06-L1/T5 và 07-L1/T5 sâu xuống khoảng 60cm thì thấy ống gen màu cam bọc bên ngoài dây cáp điện. H dùng dao

3

cắt ống gen rồi tiếp tục dùng kìm cộng lực lần lượt cắt hai đầu dây cáp điện nối giữa cột đèn 05-L1/T5 với cột đèn 06-L1/T5 và giữa cột đèn 06-L1/T5 với cột đèn 07-L1/T5.

Sau khi cắt rời hai đầu dây, H dùng tay kéo lần lượt lên được 02 đoạn dây cáp điện CADI THANG LOI 3x25+1x16 SQMN 0,6KV có tổng chiều dài 45,22 m. H tiếp tục dùng kìm cộng lực cắt 02 đoạn dây cáp điện này thành 74 đoạn ngắn rồi cất vào 02 bao tải dứa màu vàng. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 16/8/2025, khi H đang thu dọn đồ để ra về thì bị ông Giáp Văn C, sinh năm 1968; ông Ngô Văn H3, sinh năm 1971 và ông Giáp Văn S1, sinh năm 1975 cùng ở thôn D, xã T phát hiện, yêu cầu H lên làm việc. Lợi dụng sơ hở H cởi áo phông đang mặc vứt xuống đường rồi bỏ chạy hướng về xã L. Sau đó ông Giáp Văn C trình báo sự việc đến Công an xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Sau khi tiếp nhận Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ:

  • - 02 bao tải dứa màu vàng bên trong có tổng số 74 đoạn dây cáp điện vỏ màu đen, loại 3x25+ 1x16 (mặt ngoài in chữ CADI THANG LOI ELECTRIC CABLEC CU/XLPE/PVC/DSTA/PVC 3x25+1x16 SQMN 0,6KV), tổng chiều dài các đoạn dây cáp điện là 45,22 m; 01 kìm cộng lực bằng kim loại dài 80 cm; 01 xà cầy bằng thép dài 87 cm; 01 dao tự chế bằng kim loại dài 21 cm; 01 đôi giày nhựa màu xanh; 01 bao tải dứa màu vàng; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu; 01 xe mô tô Honda Wave, BKS 98C1-171.60;
  • - 01 (một) áo phông cộc tay màu vàng, nhãn hiệu Yody; 01 (một) áo khoác màu xám; 01 (một) đôi găng tay cao su màu trắng xanh (được niêm phong).

Ngày 18/8/2025, Phạm Văn H đến Công an xã T, tỉnh Bắc Ninh đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cho H chỉ dẫn địa điểm, vị trí trộm cắp tài sản, kết quả: Hưng chỉ dẫn chính xác vị trí trộm cắp dây cáp điện phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã yêu cầu định giá; trưng cầu giám định ADN trên mẫu vật thu giữ được niêm phong; giám định cơ chế hình thành dấu vết. Tại Kết luận định giá tài sản số 275/KL-ĐGTS ngày 30/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh, kết luận: Giá trị của 45,22 m dây cáp điện, loại 3x25+1x16 SQMM 0,6KV, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 16/8/2025 là: 14.324.027 đồng.

Tại Kết luận giám định ADN số HT539.25/PY-XNSN ngày 28/8/2025 của V, kết luận:

"1. Không phát hiện thấy ADN nhiễm sắc thể thường của người từ dấu vết trên: 01 (một) áo phông cộc tay màu vàng, nhãn hiệu Yody; 01 (một) áo khoác màu xám; 01 (một) đôi găng tay cao su màu trắng xanh gửi giám định.

2. Dấu vết trên 01 (một) mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu trắng hồng, bề mặt phía sau in chữ “SPACE CROWN” gửi giám định có sinh phẩm của người; có

4

ADN nhiễm sắc thể thường với nồng độ thấp, trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của Phạm Văn H trên các locus gen phân tích được".

Tại Kết luận giám định số 2557/KL-KTHS ngày 25/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B về cơ chế hình thành dấu vết, kết luận:

“1. Dấu vết cắt tại hai đầu các đoạn dây cáp điện gửi giám định được hình thành do vật có hai lưỡi sắc (như kìm) tác động cắt tạo nên.

2. Không xác định được dấu vết cắt tại hai đầu các đoạn dây cáp điện gửi giám định có phải do chiếc kìm cộng lực gửi giám định cắt ra tạo nên hay không.” (BL 89)

Cáo trạng số 15/CT-VKS-KV4 ngày 11 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người vắng mặt.

Qua thẩm vấn tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 16/10/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, Hội đồng xét xử thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt

5

của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án là đảm bảo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H một lần nữa đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 15, rạng sáng ngày 16/8/2025 tại cột đèn ký hiệu 05-L1/T5 đến cột đèn ký hiệu 07-L1/T5 của hệ thống đèn chiếu sáng, tuyến đường Đ- A thuộc địa phận thôn D, xã T, tỉnh Bắc Ninh, Phạm Văn H, sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh có hành vi trộm cắp 45,22 m dây cáp điện, loại 3x25+1x16 SQMM 0,6KV có trị giá 14.324.027 đồng, là tài sản do UBND xã T, tỉnh Bắc Ninh quản lý. Tài sản đã thu hồi được.

Như vậy, Cáo trạng số 15/CT-VKS-KV4 ngày 11/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Ngày 19/11/2014, bị cáo H bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phí và tiền phạt bổ sung tháng 2/2018. Ngày 04/3/2019, bị cáo bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền (số tiền 1.500.000 đồng) về hành vi “Sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản”. Ngày 17/4/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2020, tiền án phí và bồi thường dân sự ngày 12/8/2021.
  • - Tiền án, tiền sự: Không có
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; bà ngoại bị cáo được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy

6

cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy, mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • [6] Về tiếp tục tạm giam bị cáo: Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày theo quy định tại Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • [7] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 23/10/2025, bà Phạm Thị T, sinh năm 1960 ở thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh (là mẹ đẻ H) đã bồi thường cho UBND xã T số tiền 14.324.000 đồng. Đại diện theo ủy quyền của UBND xã T là ông Phạm Minh K - Chuyên viên Phòng kinh tế UBND xã đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • [8] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  • - Đối với 01 đôi găng tay cao su màu trắng xanh; 01 đôi giày bằng nhựa màu xanh, 03 bao tải dứa màu vàng, 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, 01 áo phông cộc tay màu vàng, 01 áo khoác màu xám là tài sản cá nhân của bị cáo, bị cáo không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 kìm cộng lực bằng kim loại, 01 xà cầy bằng thép, 01 dao tự chế bằng kim loại là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch tiêu hủy.
  • - Đối với 74 đoạn dây cáp điện vỏ màu đen là tài sản của UBND xã T, tỉnh Bắc Giang, tuy nhiên đã bị cắt nhỏ, không còn giá trị sử dụng, UBND xã T và bị cáo đều có ý kiến là không nhận số dây cáp điện trên nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 98C1 - 171.60 thu giữ của H, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Hoàng Thị T1. Chị T1 không biết H sử dụng chiếc xe để đi trộm cắp tài sản, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo H nên cần trả lại chị T1 chiếc xe nêu trên.

[9] Các vấn đề khác:

Quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Hoàng Thị T1 gửi nhờ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 98C1 - 171.60 tại nhà anh Nguyễn Văn N. Anh N thấy chị T1 không dùng chiếc xe trên nên khoảng đầu tháng 7/2025 đã cho H mượn để đưa đón con đi học. Chị T1 và anh N không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của H nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.

[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

7

[11] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 16/10/2025.

2. Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Đức H4 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy:
    • + 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu trắng hồng, bề mặt phía sau in chữ "SPACE CROWN"; 01 áo phông cộc tay màu vàng, nhãn hiệu Yody; 01 (một) áo khoác màu xám; 01 đôi găng tay cao su màu trắng xanh; 01 đôi giày bằng nhựa màu xanh, cỡ 42;
    • + 03 bao tải dứa màu vàng, mặt ngoài in chữ “CHẤT KEO TỤ DÙNG TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI", "sản xuất tại: công ty CP Đ";
    • + 01 kìm cộng lực bằng kim loại dài 80cm, hai tay cầm dài 60cm, đường kính 03cm, phân lưỡi dài 20cm; 01 xà cầy bằng thép phi 25 dài 87cm; 01 dao tự chế bằng kim loại dài 21cm, phần lưỡi sáng màu dài 11cm, bản rộng 02cm; phần chuôi quấn băng dính màu đen.
    • + 64 (sáu mươi tư) đoạn dây cáp điện vỏ màu đen, loại 3x25+1x16 (mặt ngoài in chữ CADI THANG LOI ELECTRIC CABLEC CU/XLPE/PVC/DSTA/PVC 3x25+1x16 SQMM 0,6KV *TCVN5935-1:2013 ISO 9001-2008*2020*) được niêm phong trong 01 bao tải dứa màu trắng, dán dải niêm phong có chữ ký, họ tên của Nghiêm Văn C1, Phạm Văn H, Chu Đình H5.
    • + 10 (mười) đoạn dây cáp điện vỏ màu đen, loại 3x25+1x16 (mặt ngoài in chữ CADI THANG LOI ELECTRIC CABLEC CU/XLPE/PVC/DSTA/PVC 3x25+1x16 SQMM 0,6KV *TCVN5935-1:2013 ISO 9001-2008*2020*). ELG được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông, dán dải niêm phong có chữ ký, họ tên của Nguyễn Cao S2, Phạm Trọng T2 và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B.
  • - Trả lại chị Hoàng Thị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA; số loại: WAVE; màu sơn: xanh đen bạc; số máy: JA36E1091853; số khung: RLHJA3913KY232093; biển kiểm soát: 98C1-171.60.

8

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 4;
  • - Phòng THADS khu vực 4;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH về hình sự (tội trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Hưng phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger