Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày: 16-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Đào Vi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quốc Tuấn

Ông Dương Tuấn Anh

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Ngọc Ánh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Trần Viết Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, số A đường T, phường P, quận T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 06 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Thị Mi N, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1994 tại thành phố H; số CCCD: [...] cấp ngày 15/8/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn V, xã T, thị xã H, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; con ông Trần Công A, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1972; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con đầu; có chồng là Nguyễn Đức Nhật Q, sinh năm 1994; có 01 con, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;

Quá trình hoạt động của bị cáo: Từ nhỏ sinh sống với bố mẹ và học tập tại thôn V, xã T, thị xã H, thành phố H. Học hết lớp 09/12 thì nghỉ học, lớn lên lấy chồng và làm lao động tự do cho đến ngày phạm tội.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2025, bị chuyển sang tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1965. Địa chỉ: 3 An Thường C, phường T, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt.
  • + Bà Trương Hồ Bảo Q1, sinh năm 1995. Địa chỉ: A Kiệt D N, phường P, quận P, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 ngày 03 tháng 01 năm 2025, Trần Thị Mi N liên hệ với Trương Hồ Bảo Q1, sinh năm 1995, trú tại số A, kiệt D N phường P, quận P, thành phố H qua số điện thoại 0935.543.xxx hỏi mua ma túy, loại ma túy đá và hồng phiến thì được Q1 đồng ý. Sau đó N đến nhà Q1 mua 01 gói ma túy đá và 01 gói ma túy hồng phiến gồm 219 viên nén màu đỏ và 02 viên nén màu xanh với giá 6.800.000 đồng, mục đích để sử dụng nên. Mua được ma túy, Trần Thị Mi N bắt taxi đi công việc. Đến 14 giờ 50 phút ngày 03 tháng 01 năm 2025, khi N đang đứng trước kiệt số 02 đường D, phường T, thị xã H, thành phố H thì lực lượng Công an tới kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Trần Thị Mi N có hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ trong túi xách màu nâu N đang đeo trên người có 01 (một) gói ni lông màu trắng viền xanh bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng và 01 (một) gói ni lông màu xanh bên trong chứa 219 viên nén màu đỏ và 02 viên nén màu xanh. Ni thừa nhận, số ma túy trên là “hồng phiến” và “đá” Ni vừa mua từ Q1 nhằm mục đích về nhà cất giấu để sử dụng dần cho bản thân, không vì mục đích gì khác.

Khám xét chỗ ở của Trần Thị Mi N tại thôn V, xã T, thị xã H, thành phố H, cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ gì.

Vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 356388104065205.
  • - 01 túi xách da có dây đeo màu nâu.

Tại bản Kết luận giám định số 06/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: 219 viên nén màu đỏ, 02 viên nén màu xanh và mẫu tinh thể rắn màu trắng thu giữ của Trần Thị Mi N có tổng khối lượng 25,9931 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số: 22/CT-VKSTPH-P1 ngày 08/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Trần Thị Mi N về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm luận tội theo như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Thị Mi N và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

  • - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Mi N từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý như sau:
    • + Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong bên trong chứa ma túy và các vật liệu dùng để bao gói, bên ngoài có 02 chữ ký Giám định viên Lê Thị Ánh T, 02 chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Trần Đình T1, 02 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố H và dòng chữ “Hoàn mẫu vật vụ Trần Thị Mi N, bắt ngày 03/01/2025;
    • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone, màn hình bị rạn nứt, số Imei: 356388104065205 (đã được niêm phong có biên bản kèm theo);
    • + Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) túi xách màu nâu có dây đeo.
  • - Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Trần Thị Mi N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Mi N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày ngày 03 tháng 01 năm 2025, tại trước kiệt số B đường D, phường T, thị xã H, thành phố H, bị cáo Trần Thị Mi N đang có hành vi tàng trữ trái phép 25,9931 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị phát hiện bắt quả tang.

Với hành vi nêu trên, bị cáo Trần Thị Mi N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 22/CT-VKSTPH-P1 ngày 08/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Trần Thị Mi N với tội danh như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Mi N, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Thị Mi N, thấy rằng:

  • Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện hành vi phạm tội của Trương Hồ Bảo Q1 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về biện pháp chấp hành hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm khỏan 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có thu nhập, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý như sau:

  • - Đối với 01 (một) gói niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong bên trong chứa ma túy và các vật liệu dùng để bao gói, bên ngoài có 02 chữ ký Giám định viên Lê Thị Ánh T, 02 chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Trần Đình T1, 02 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố H và dòng chữ “Hoàn mẫu vật vụ Trần Thị Mi N, bắt ngày 03/01/2025”. Đây là số lượng chất ma túy thu giữ khi bị bắt quả tang bị cáo Trần Thị Mi N, là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone, màn hình bị rạn nứt, số Imei: 356388104065205 (đã được niêm phong có biên bản kèm theo); là công cụ bị cáo N dùng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) túi xách màu nâu có dây đeo là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

(Vật chứng nói trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.)

[8] Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thị Mi N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mi N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Trần Thị Mi N 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 03/01/2025.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong bên trong chứa ma túy và các vật liệu dùng để bao gói, bên ngoài có 02 chữ ký Giám định viên Lê Thị Ánh T, 02 chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Trần Đình T1, 02 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố H và dòng chữ “Hoàn mẫu vật vụ Trần Thị Mi N, bắt ngày 03/01/2025.
    • - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone, màn hình bị rạn nứt, số Imei: 356388104065205 (đã được niêm phong có biên bản kèm theo).
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) túi xách màu nâu có dây đeo.

    (Vật chứng nói trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.)

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Trần Thị Mi N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 CA thành phố Huế;
  • - Trại tạm giam CA thành phố Huế;
  • - Sở Tư pháp;
  • - CQĐT CA thành phố Huế;
  • - CQ THAHS CA thành phố Huế;
  • - Cục THADS thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, THS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trương Thị Đào Vi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Mi N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger