|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2025/HS-ST
Ngày: 13-11-2025
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
Bà Nguyễn Lê Anh Thư
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 và Thông báo về việc dời thời gian xét xử vụ án số 03/TB-TA ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Viết N, sinh năm 1997 tại Thanh Hoá.
Nơi thường trú: Phố T, phường Q, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố G, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Viết T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972; có vợ tên Phi Thị C, sinh năm 2000; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2024
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phan R – T, Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh K, có mặt tại phiên tòa.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Văn Thị C1, sinh năm 1970 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Ông Trần Đặng Nhã P, sinh năm 1986 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Huỳnh Kim Q, sinh năm 1991 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bà Trần Thúy H, sinh năm 1979 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bà Tạ Thị Bích H1, sinh năm 1988 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bà Phi Thị C, sinh năm 2000 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường B, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường B, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Thôn T, xã C, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Thôn M, xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Số B phố T, phường Q, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 4/2025, Đỗ Viết N hoạt động cho vay tiền lấy lãi trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà (trước đây là tỉnh Ninh Thuận) bằng hình thức cho vay trả góp. Quá trình hoạt động, Nam lập trang thông tin điện tử trên mạng xã hội (còn gọi là Facebook) như “cho vay vốn góp ngày Phan R 0389837197”, “cho vay tư nhân Ninh Thuận” để tìm kiếm người vay, nếu người nào cần vay tiền thì gọi điện cho N rồi N đến nhà gặp trực tiếp người vay để biết nhà, không cần người vay phải cầm cố thế chấp tài sản gì và không lập hợp đồng vay. Sau khi biết rõ địa chỉ nhà người vay, N sẽ đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản cho người vay. Số tiền N cho vay dao động từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và thu thêm phí hồ sơ vay với số tiền từ 150.000 đồng đến 1.500.000 đồng tuỳ vào số tiền vay, đồng thời trừ trước tiền góp ngày đầu tiên và ngày cuối. Tiền trả góp hàng ngày, được người vay chuyển khoản cho N vào tài khoản ngân hàng V1 số [...] mang tên Đỗ Viết N và tài khoản ngân hàng VCB số 1054663062 mang tên Phi Thị C (là tài khoản của vợ bị can N) hoặc hẹn gặp trực tiếp đưa tiền mặt. Số người Nam cho vay lấy lãi cụ thể như sau:
- Bà Văn Thị C1: Từ ngày 30/6/2024 đến ngày 09/5/2025, N cho bà C1 vay 10 lần, với tổng số tiền cho vay là 60.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất từ 365%/năm. N đã thu lợi thực tế của bà C1 với số tiền là 18.000.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 821.918 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 17.178.082 đồng). Bà C1 đã trả hết tiền nợ gốc cho N.
- Ông Trần Đặng Nhã P:
- - Lần thứ nhất: Từ ngày 05/9/2022 đến tháng 12/2022, N cho P vay 04 lần, với tổng số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. N đã thu lợi thực tế số tiền 12.000.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 547.945 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 11.452.055 đồng).
- - Lần thứ hai: Từ ngày 01/01/2023 đến tháng 12/2023, N cho P vay 12 lần, với tổng số tiền 120.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. N đã thu lợi thực tế số tiền là 36.000.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 1.643.836 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 34.356.164 đồng).
- - Lần thứ ba: Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 01/9/2024, N cho P vay 09 lần, với số tiền là 90.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. N đã thu lợi thực tế số tiền là 27.000.000 đồng (trong đó tiền lãi hợp pháp là 1.232.877 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 25.767.123 đồng).
- - Lần thứ tư: Từ ngày 10/3/2025 đến ngày 30/3/2025, N cho P vay số tiền là 3.000.000 đồng, lãi suất 415%/năm. N đã thu lợi thực tế số tiền 900.000 đồng (trong đó tiền lãi hợp pháp là tiền là 36.164 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 863.836 đồng).
- - Lần thứ năm: Từ ngày 30/3/2025 đến ngày 11/4/2025, N cho P vay số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất 702%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền là 900.000 đồng (trong đó tiền lãi hợp pháp là 21.370 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 878.630 đồng).
- - Lần thứ sáu: Từ ngày 04/4/2025 đến ngày 20/4/2025, N cho P vay số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất 570%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền là 900.000 đồng (trong đó tiền lãi hợp pháp là 26.301 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 873.699 đồng).
- - Lần thứ bảy: Từ ngày 12/4/2025 đến ngày 24/5/2025, N cho P vay số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất 217%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền là 900.000 đồng (trong đó tiền lãi hợp pháp là 69.041 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 830.959 đồng).
- - Lần thứ tám: Từ ngày 21/4/2025 đến ngày 07/6/2025, N cho P vay số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất 194%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền là 900.000 đồng (trong đó tiền lãi hợp pháp là 77.260 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 822.740 đồng).
- Nguyễn Huỳnh Kim Q:
- - Lần thứ nhất: Ngày 15/6/2023 đến ngày 30/6/2023, N cho Q vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 570%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền 3.000.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 87.671 đồng, tiền thu lợi bất chính là 2.912.329 đồng).
- - Lần thứ hai: Từ ngày 01/7/2023 đến ngày 31/8/2023, N cho Q vay 04 lần, tổng số tiền vay 60.000.000 đồng, lãi suất 570%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền 18.000.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 526.027 đồng, tiền thu lợi bất chính là 17.473.973 đồng).
- - Lần thứ ba: Từ ngày 01/9/2023 đến 30/9/2023, N cho Q vay 02 lần, tổng số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất 342%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền 8.000.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 350.685 đồng, tiền thu lợi bất chính là 7.649.315đồng).
- - Lần thứ tư: Từ 01/10/2023 đến ngày 31/10/2023, N cho Q vay 02 lần với tổng số tiền 50.000.000 đồng lãi suất 342%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền 10.000.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 438.356 đồng, tiền thu lợi bất chính là 9.561.644 đồng).
- - Lần thứ năm: Từ 01/11/2023 đến cuối tháng 01/2024, N cho Q vay 03 lần với tổng số tiền 90.000.000 đồng lãi suất 238%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền 18.000.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 1.134.247 đồng, tiền thu lợi bất chính là 16.865.753 đồng).
- - Lần thứ sáu: Từ ngày 01/4/2024 đến ngày 10/4/2024, N cho Q vay 01 lần với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 730%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền 1.300.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 27.397 đồng, tiền thu lợi bất chính là 1.272.603 đồng).
- - Lần thứ bảy: Từ ngày 15/4/2024 đến ngày 20/4/2024, N cho Q vay 01 lần với số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền 1.650.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 41.096 đồng, tiền thu lợi bất chính là 1.608.904 đồng).
- Trần Thúy H: Vào ngày 01/6/2024 đến 25/6/2024, N cho H vay 01 lần với số tiền 10.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp, với lãi suất 365%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền 3.000.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 136.986 đồng, tiền thu lợi bất chính là 2.863.014 đồng). Bà H đã trả hết nợ gốc cho N.
- Tạ Thị Bích H1: Từ ngày 01/10/2024 đến 21/4/2025, N cho H1 vay 05 lần với tổng số tiền là 25.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp, với lãi suất từ 365%/năm đến 608%/năm, N đã thu lợi thực tế số tiền 7.250.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 246.575 đồng, tiền thu lợi bất chính là 7.003.425 đồng). H1 còn nợ N số tiền gốc là 1.250.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà N cho anh P vay là 265.000.000 đồng, N thu lợi thực tế số tiền là 79.500.000 đồng (trong đó tiền thu lợi hợp pháp là 3.654.794 đồng, tiền thu lợi bất chính là 75.845.205 đồng). Anh P đã trả hết tiền gốc cho N.
Như vậy, tổng số tiền N cho anh Q vay là 270.000.000 đồng, N thu lợi thực tế số tiền 59.950.000 đồng (trong đó, tiền lãi hợp pháp là 2.605.479 đồng, tiền thu lợi bất chính là 57.344.521 đồng). Anh Q còn nợ N số tiền gốc là 13.500.000 đồng.
Ngoài cho những người nêu trên vay tiền, N còn cho một số người khác vay tiền lấy lãi, tuy nhiên N không nhớ được họ tên, địa chỉ cụ thể của người vay, ngoài lời khai của N thì không có tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
Cáo trạng số: 126/CT-VKSKV5 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà truy tố bị cáo Đỗ Viết N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Viết N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Áp dụng: Khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Viết N từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47, Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro, màu tím, Imei số: 357170548746908, gắn thẻ sim số 0389837197 và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng đồng, số Imei: 356095091650689, gắn thẻ sim số: 0856497666. Đây là điện thoại N sử dụng làm phương tiện cho vay và lấy lãi, còn giá trị sử dụng.
- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro, màu đen, Imei số: 357588209157257, gắn thẻ sim số: 0839913456 và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số Imei: 355842088287186, gắn thẻ sim số: 0389631823 của Mai Đình K, sinh năm 1997, trú tại: xã L, tỉnh Thanh Hóa; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, số Imei: 352976099323829 có gắn sim số 0333097767 của Đàm Hữu T2, sinh năm: 1997, trú tại: phường Q, tỉnh Thanh Hóa; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh, số I: 354876503749579 có gắn thẻ sim số: 0378250098 của Hoàng Văn V, sinh năm: 2002, trú tại: xã L, tỉnh Thanh Hóa. Đây là những đồ vật được thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Đỗ Viết N. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định các đối tượng trên không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Đỗ Viết N, hiện chưa làm việc được với các đối tượng trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra đề nghị tách hành vi của các đối tượng trên cùng tài liệu, đồ vật, chứng cứ liên quan để tiếp tục xác minh, điều tra là phù hợp.
- Buộc bị cáo Đỗ Viết N phải nộp lại số tiền 615.250.000 đồng là tiền bị cáo sử dụng cho vay mà người vay đã trả và số tiền 7.465.753 đồng là tiền thu lợi hợp pháp để sung vào Ngân sách nhà nước.
- Buộc bị cáo Đỗ Viết N trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người vay tổng số tiền 160.234.247 đồng, cụ thể:
- + Trả lại cho bà Văn Thị C1 số tiền 17.178.082 đồng.
- + Trả lại cho ông Trần Đặng Nhã P số tiền 75.845.205 đồng.
- + Trả lại cho ông Nguyễn Huỳnh Kim Q số tiền 57.344.521 đồng.
- + Trả lại cho bà Trần Thúy H số tiền 2.863.014 đồng.
- + Trả lại cho bà Tạ Thị Bích H1 số tiền 7.003.425 đồng.
- Buộc những người vay phải giao nộp tổng số tiền 14.750.000 đồng là tiền bị cáo N sử dụng cho vay nhưng người vay chưa trả để sung vào Ngân sách nhà nước. Cụ thể:
- + Buộc ông Nguyễn Huỳnh Kim Q phải nộp số tiền 13.500.000 đồng.
- + Buộc bà Tạ Thị Bích H1 phải nộp số tiền 1.250.000 đồng.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000 đồng và 25.000.000 đồng mà bị cáo N đã nộp (ông Nguyễn Văn T3 và bà Phi Thị C nộp thay) để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo không tranh luận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
Bị cáo Đỗ Viết N nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn và hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử xét thấy những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã có lời khai trong vụ án, việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở xác định:
Trong khoảng thời gian từ ngày 05/9/2022 đến ngày 21/4/2025, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa (trước đây là tỉnh Ninh Thuận), Đỗ Viết N đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với 05 người, với tổng số tiền cho vay là 630.000.000 đồng, lãi suất dao động từ 194%/năm đến 702%/năm, cao hơn 05 lần của mức lãi suất cao nhất quy định của Điều 468 Bộ luật Dân sự. N đã thu lợi thực tế số tiền 167.700.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 7.465.753, số tiền thu lợi bất chính là 160.234.247 đồng).
Như vậy, có căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Đỗ Viết N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 126/CT-VKSKV5 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
[4] Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi bị cáo đã lợi dụng khó khăn về tài chính của người khác để thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, tham lam tư lợi cá nhân, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính tiền tệ mà còn xâm phạm đến quyền lợi của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện nộp lại một phần thu lợi bất chính số tiền 40.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích lợi nhuận, thu lợi bất chính nên cần áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
[7.1] Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro, màu tím, Imei số: 357170548746908, gắn thẻ sim số 0389837197 và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng đồng, số Imei: 356095091650689, gắn thẻ sim số: 0856497666. Đây là công cụ bị cáo Đỗ Viết N sử dụng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[7.2] Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro, màu đen, Imei số: 357588209157257, gắn thẻ sim số: 0839913456 và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số Imei: 355842088287186, gắn thẻ sim số: 0389631823 của Mai Đình K, sinh năm 1997, trú tại: xã L, tỉnh Thanh Hóa; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, số Imei: 352976099323829 có gắn sim số 0333097767 của Đàm Hữu T2, sinh năm: 1997, trú tại: phường Q, tỉnh Thanh Hóa; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh, số I: 354876503749579 có gắn thẻ sim số: 0378250098 của Hoàng Văn V, sinh năm: 2002, trú tại: xã L, tỉnh Thanh Hóa. Đây là những đồ vật được thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Đỗ Viết N. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định các đối tượng trên không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Đỗ Viết N, hiện chưa làm việc được với các đối tượng trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra đề nghị tách hành vi của các đối tượng trên cùng tài liệu, đồ vật, chứng cứ liên quan để tiếp tục xác minh, điều tra là phù hợp.
[7.3] Đối với số tiền gốc 630.000.000 đồng mà bị cáo Đỗ Viết N dùng để cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Trong đó:
[7.3.1] Số tiền vay gốc những người vay đã trả cho bị cáo N là 615.250.000 đồng gồm bà Văn Thị C1 đã trả 60.000.000 đồng, ông Trần Đặng Nhã P đã trả 265.000.000 đồng, ông Nguyễn Huỳnh Kim Q đã trả 256.500.000 đồng, bà Trần Thúy H đã trả 10.000.000 đồng, bà Tạ Thị Bích H1 đã trả 23.750.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo Đỗ Viết N có nghĩa vụ nộp lại số tiền 615.250.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
[7.3.2] Số tiền vay gốc mà những người vay chưa trả cho bị cáo Đỗ Viết N nên buộc nộp lại để sung ngân sách nhà nước, cụ thể:
- - Buộc ông Nguyễn Huỳnh Kim Q phải nộp lại 13.500.000 đồng.
- - Buộc bà Tạ Thị Bích H1 phải nộp lại 1.250.000 đồng.
[7.4] Đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo Đỗ Viết N đã thu lãi của những người vay số tiền 7.465.753 đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm. Do đó, buộc bị cáo Đỗ Viết N phải nộp lại số tiền 7.465.753 đồng để sung ngân sách nhà nước.
[7.5] Đối với số tiền thu lợi bất chính 160.234.247 đồng; buộc bị cáo Đỗ Viết N phải trả lại cho những người vay. Cụ thể:
- - Buộc bị cáo N trả lại cho bà Văn Thị C1 số tiền 17.178.082 đồng.
- - Buộc bị cáo N trả lại cho ông Trần Đặng Nhã P số tiền 75.845.205 đồng.
- - Buộc bị cáo N trả lại cho ông Nguyễn Huỳnh Kim Q số tiền 57.344.521 đồng.
- - Buộc bị cáo N trả lại cho bà Trần Thúy H số tiền 2.863.014 đồng.
- - Buộc bị cáo N trả lại cho bà Tạ Thị Bích H1 số tiền 7.003.425 đồng.
[7.6] Tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000 đồng mà bị cáo N đã nộp (do ông Nguyễn Văn T3 nộp thay) theo Biên lai thu tiền số 0001050 ngày 05/11/2025 và số tiền 25.000.000 đồng mà bị cáo N đã nộp (do chị Phi Thị C nộp thay) theo Biên lai thu tiền số 0001075 ngày 11/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hoà để đảm bảo thi hành án.
[8] Những vấn đề khác:
[8.1] Đối với việc Đỗ Viết N sử dụng tài khoản ngân hàng của chị Phi Thị C (vợ bị cáo N) để dùng vào hoạt động cho vay lãi nặng. Quá trình điều tra xác định, tài khoản của chị C được N trực tiếp quản lý sử dụng, việc N sử dụng tài khoản của chị C để thực hiện hoạt động cho vay lãi nặng thì chị C hoàn toàn không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý đối với chị C là có căn cứ.
[8.2] Ngoài cho những người nêu trên vay tiền, N còn cho một số người khác vay tiền lấy lãi, tuy nhiên N không nhớ được họ tên, địa chỉ cụ thể của người vay, ngoài lời khai của N thì không có tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
[9] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Viết N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
1. Áp dụng: Khoản 2, 3 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Viết N 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2025.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đỗ Viết N số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro, màu tím, Imei số: 357170548746908, gắn thẻ sim số 0389837197 và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng đồng, số Imei: 356095091650689, gắn thẻ sim số: 0856497666 (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Khánh Hoà).
2.2. Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền 637.465.753 đồng (Sáu trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng), cụ thể các khoản như sau:
- - Truy thu của bị cáo Đỗ Viết N số tiền 622.715.753 đồng (Sáu trăm hai mươi hai triệu bảy trăm mười lăm nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước; trong đó bao gồm: số tiền 615.250.000 đồng là tiền vay gốc những người vay đã trả cho bị cáo; số tiền 7.465.753 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo N đã thu lãi của những người vay. Tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) mà bị cáo N đã nộp (do ông Nguyễn Văn T3 nộp thay) theo Biên lai thu tiền số 0001050 ngày 05/11/2025 và số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) mà bị cáo N đã nộp (do chị Phi Thị C nộp thay) theo Biên lai thu tiền số 0001075 ngày 11/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hoà để đảm bảo thi hành án.
- - Buộc ông Nguyễn Huỳnh Kim Q phải nộp lại 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- - Buộc bà Tạ Thị Bích H1 phải nộp lại 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
2.3. Buộc bị cáo Đỗ Viết N phải trả lại cho những người vay số tiền thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
- - Trả lại cho bà Văn Thị C1 số tiền 17.178.082 đồng (Mười bảy triệu một trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng).
- - Trả lại cho ông Trần Đặng Nhã P số tiền 75.845.205 đồng (Bảy mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm lẻ năm đồng).
- - Trả lại cho ông Nguyễn Huỳnh Kim Q số tiền 57.344.521 đồng (Năm mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm hai mươi mốt đồng).
- - Trả lại cho bà Trần Thúy H số tiền 2.863.014 đồng (Hai triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn không trăm mười bốn đồng).
- - Trả lại cho bà Tạ Thị Bích H1 số tiền 7.003.425 đồng (Bảy triệu không trăm lẻ ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Viết N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Phi Thị C); quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 13/11/2025). Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Khánh Hòa;
- - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
- - VKSND khu vực 5 – Khánh Hòa;
- - Công an tỉnh Khánh Hòa;
- - Bị cáo;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa;
- - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
- - Lưu: Hồ sơ, án văn.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 64/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Viết Nam phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
