Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN NAM

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày: 12-6-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Chánh Ngôn
  2. Ông Dương Hồng Vinh

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thanh Thúy là Thư ký viên của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tham gia phiên toà: Ông Phan Quốc Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam và điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam Khu vực H mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 05 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 01/TB-TA ngày 06/6/2025 đối với bị cáo:

Đặng Thị G, sinh năm 1970, tại: Bình Thuận;

Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Chỗ ở hiện nay: Không ổn định;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đặng G1 (chết) và bà Võ Thị C (chết); Gia đình có 03 anh chị em, con lới nhất sinh năm 1967, bị cáo là con út trong gia đình; Chồng: Vũ Văn V (đã ly hôn); Con: Vũ Đặng Vinh sinh, năm 2009.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/03/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực H;

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người tiến hành tố tụng khác:

Ông Ngô Duy K – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tham gia tại điểm cầu thành phần.

Người tham gia tố tụng khác:

+ Ông Trịnh Đức A - Cán bộ Phân trại tạm giam Khu vực Hàm Thuận N tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

* Bị hại:

Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; (bị hại có mặt tại điểm cầu trung tâm)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vương Kim B1, sinh năm 1988 – Chủ tiệm V1 (vắng mặt)

Địa chỉ: phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/7/2023, Đặng Thị G được bà Nguyễn Thị B (sinh năm 1961, trú thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) nhờ trông nhà của bà B tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Trong lúc trông nhà, G quét dọn nhà cửa giúp cho bà B thì phát hiện 01 chiếc lắc tay bằng vàng 18K, trọng lượng 4,47 chỉ của bà B để ở bên hông tủ quần áo trong phòng ngủ của bà B. Lúc này, G nảy sinh ý định trộm cắp chiếc lắc vàng nên đã đem chiếc lắc giấu bên hông máy giặt của nhà bà B. Đến ngày 07/7/2023, lợi dụng lúc bà B không có ở nhà, G đi xe máy đến nhà bà B, lấy chiếc lắc vàng đem về nhà trọ tại thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, G đem lắc vàng đến tiệm V1 ở chợ P do bà Vương Kim B1 (sinh năm 1988, trú phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) làm chủ, bán được 14.420.000 đồng và tiêu xài cá nhân. Tại cơ quan Công an, Đặng Thị G đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Đối với lắc tay bằng vàng, tiệm V1 đã bán đi sau đó nên không thu hồi được.

Vật chứng vụ án gồm:

01 chiếc lắc tay bằng vàng 18K, trọng lượng 4,47 chỉ tiệm V1 đã bán đi nên không thu hồi được;

01 đoạn video ghi lại diễn biến sự việc mua bán kim loại vào ngày 07/7/2023 tại tiệm V1, 01 giấy bảo đảm của tiệm V2 ghi nhận việc mua bán 01 lắc khoen lật trơn 4,47 x 3470 + 550 = 16.060.000 giữa bà Nguyễn Thị B và tiệm V2.

Tại văn bản số 89/2024-HĐĐG ngày 21/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H xác định không đủ cơ sở để khảo sát và định giá theo quy định.

Căn cứ Biên bản làm việc ngày 10/7/2023 tại Tiệm V1 xác định vào ngày 07/7/2023, tiệm V1 đã mua của Đặng Thị G 01 lắc vàng 18K, trọng lượng 4,47 chỉ với số tiền 14.420.000 đồng. Giáng thừa nhận đây là lắc vàng đã trộm của bà Nguyễn Thị B.

Xử lý vật chứng: 01 đoạn video ghi lại diễn biến sự việc mua bán kim loại vào ngày 07/7/2023 tại tiệm V1 ở thành phố P, tỉnh Bình Thuận thu giữ được của bà Vương Kim B1, 01 giấy bảo đảm của tiệm V2 ghi nhận việc mua

bán 01 lắc khoen lật trơn 4,47 x 3470 + 550 = 16.060.000 giữa bà Nguyễn Thị B và tiệm V2, được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

Do chiếc lắc tay không thu hồi được nên bà B và G đã thỏa thuận, thống nhất số tiền khắc phục hậu quả là 16.060.000 đồng, đến nay bà G đã trả cho bà B số tiền 7.060.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSHTN-HS ngày 19 tháng 05 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã truy tố Đặng Thị G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam phát biểu quan điểm xử lý về vụ án như sau:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc lắc tay bằng vàng 18K, trọng lượng 4,47 chỉ trị giá 14.420.000 đồng của bà Nguyễn Thị B. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, bồi thường một phần thiệt hại về tài sản và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Vì hành vi trên nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận N giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Đặng Thị G, phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đặng Thị G từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị B yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 16.060.000 đồng, bị cáo đã bồi thường số tiền 7.060.000 đồng. Nay bà B yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 9.000.000đồng. Quá trình điều tra, cũng như trước phiên tòa bị cáo và bị hại đều thống nhất tiếp tục bồi thường số tiền 9.000.000đồng còn lại, tại phiên tòa bị cáo và bị hại đều thống nhất như thỏa thuận trước đây nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại: Bị hại Nguyễn Thị B xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan điều tra Công an huyện H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Vương Kim B1, tuy nhiên lời khai trong hồ sơ vụ án đã thể hiện đầy đủ, rõ ràng, không gây trở ngại cho việc xét xử; đồng thời tại phiên tòa bị cáo và Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt người liên quan. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà B1 theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về định giá tài sản trong vụ án:

Tại văn bản số 89/2024-HĐĐG ngày 21/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H xác định không đủ cơ sở để khảo sát và định giá theo quy định. Tuy nhiên Căn cứ Biên bản làm việc ngày 10/7/2023 tại Tiệm V1 xác định vào ngày 07/7/2023, tiệm V1 đã mua của Đặng Thị G 01 lắc vàng 18K, trọng lượng 4,47 chỉ với số tiền 14.420.000 đồng. Giáng thừa nhận đây là lắc vàng đã trộm của bà Nguyễn Thị B. Tại Biên bản làm việc ngày 23/12/2024 tại Tiệm vàng, dịch vụ cầm thế xe máy Thanh Phong ở A L xác định vào ngày 14/4/2022, T vàng, dịch vụ cầm thế xe máy Thanh Phong có giao dịch mua bán với một người phụ nữ (không rõ tên họ địa chỉ) 01 lắc vàng 18K, có đặc điểm là 01 lắc khoen lật trọng lượng 4,47 chỉ x 3470 + 550 = 16.060.000 đồng (có giấy bản đảo). Mặc dù tài sản không thu hồi và không đủ cơ sở để khảo sát và định giá theo quy định nhưng tại các biên bản ghi lời khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để khẳng định số lượng vàng mà bà Ba bị mất trộm và số vàng bị cáo G lấy của bà B đem bán ở tiệm V1 có đặc điểm giống nhau, cùng số lượng chủng loại vàng và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận, không có ý kiến gì. Tại thời điểm bà B mua số vàng trên (Ngày 14/4/2022) với giá là 16.060.000 đồng và thời điểm bị cáo bán số vàng trên (ngày 7/7/2023) với giá 14.420.000 đồng, chênh lệch 1.640.000 đồng là phù hợp với biến động thị trường vàng và phù hợp với diễn biến giao dịch vàng theo lẽ thông thường nên việc xác định giá 14.420.000 đồng để truy tố bị cáo là có lợi cho bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại đều không thắc mắc hay khiếu nại gì về việc xác định giá trị tài sản là 14.420.000 đồng để buộc tội bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 04/7/2023, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, Đặng Thị G đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc lắc tay bằng vàng 18K, trọng lượng 4,47 chỉ trị giá 14.420.000 đồng của bà Nguyễn Thị B.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi bị cáo lén lút chiếm đoạt 01 chiếc lắc tay bằng vàng 18K, trọng lượng 4,47 có trị giá 14.420.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt, bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tự nguyện sữa chữa, bồi thường một phần thiệt hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

[6] Về xử lý vật chứng:

01 đoạn video ghi lại diễn biến sự việc mua bán kim loại vào ngày 07/7/2023 tại tiệm V1 ở thành phố P, tỉnh Bình Thuận thu giữ được của bà Vương Kim B1, 01 giấy bảo đảm của tiệm V2 ghi nhận việc mua bán 01 lắc khoen lật trơn 4,47 x 3470 + 550 = 16.060.000 giữa bà Nguyễn Thị B và tiệm V2, được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Về bồi thường dân sự:

Quá trình điều tra cũng như trước phiên tòa bị hại bà Nguyễn Thị B và bị cáo đã thống nhất thỏa thuận mức bồi thường là 16.060.000 đồng theo giá mà bà B đã mua ngày 14/4/2024 theo giấy bảo đảm của T vàng dịch vụ cầm thế xe máy T. Đây là thỏa thuận dựa trên ý chí tự nguyện của bị cáo và bị hại, việc thỏa thuận này không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Bị cáo đã bồi thường cho bà B số tiền 7.060.000 đồng, bà B tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 9.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền còn

lại là 9.000.000 đồng cho bị hại, việc bị cáo và bị hại thống nhất bồi thường số tiền còn lại là 9.000.000 đồng diễn ra trong quá trình điều tra và trước phiên tòa nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại Cơ quan điều tra thể hiện ý kiến rõ ràng và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Đặng Thị G 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2025.

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Đặng Thị G và bị hại Nguyễn Thị B về việc bị cáo Đặng Thị G tiếp tục bồi thường số tiền 9.000.000 (chín triệu) đồng cho bị hại bà Nguyễn Thị B.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Thị G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Thị G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo, bị hại là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hàm Thuận Nam;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Hàm Thuận Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - CCTHADS Hàm Thuận Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Trần Thị Nhàn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger