Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày 11-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Ông Trần Anh Dũng

Ông Đặng Võ Luyện

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hà Vĩnh Châm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn T, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Bá T1 và bà Vũ Thị L (đều đã chết); có vợ bà Hoàng Thị H, sinh năm 1965 và 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 17/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Trích xuất có mặt).

2. Hoàng Quốc H1, sinh năm 1963; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình H2 (đã chết) và bà Trần Thị S, sinh năm 1932; có vợ bà Đinh Thị P, sinh năm 1964 và 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Từ năm 1982 đến năm 1985 đi bộ đội. Bản án số 88/2017/HSST ngày 25/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà xét xử 01 năm 06 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/10/2018, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 9/2018 (đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến ngày 17/12/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Trích xuất có mặt)

3. Trần Hữu B, sinh năm 1952; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 và bà Hoàng Thị V (đều đã chết); có vợ bà Trần Thị H3, sinh năm 1952 (đã ly hôn); có vợ là Trần Thị T3, sinh năm 1968 và 05 con, con lớn nhất sinh năm 1972, con nhỏ nhất sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Từ năm 1973 đến năm 1982 tham gia Q, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất năm 2011. Bản án số 77/2011/HSST ngày 09/12/2011 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà xét xử 02 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2012, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 9/2012 (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Trích xuất có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T, Hoàng Quốc H1: Luật sư Phạm Hữu G - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Phạm Hữu L1 và cộng sự, Đoàn Luật sư tỉnh T. (Có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Hữu B: Ông Nguyễn Tiến S1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt)

* Người chứng kiến:

  • - Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ dân phố Thị An T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
  • - Ông Trần Văn N, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố Â, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
  • - Bà Đinh Thị P, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số nhà A, ngách I, phố L, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
  • - Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn Q, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)
  • - Bà Trần Thị T3, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân sử dụng ma túy từ năm 2006 và không có việc làm ổn định nên Hoàng Văn T, nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Cuối tháng 10/2024, T lên Bệnh viện P1 chữa bệnh gặp người đàn ông dân tộc H'Mông, tên S2, khoảng 60 tuổi, nhà ở huyện M, tỉnh Sơn La, không biết địa chỉ cụ thể. Qua nói chuyện, S2 nói với T có 01 bánh Heroine, 04 cây Heroine và 50 viên hồng phiến nếu T mua S2 bán với giá 140.000.000 đồng. T đồng ý mua, hẹn Sình ba ngày sau ở bến xe thành phố H lúc 05 giờ để lấy ma tuý. Khoảng 04 giờ sáng T đi xe máy một mình đến bến xe thành phố H gặp S2, T đưa cho S2 140.000.000 đồng. S2 cầm kiểm tra tiền rồi đưa cho T một túi bóng đen chứa ma tuý, T kiểm tra bên trong chứa các loại ma tuý như đã thoả thuận, T mang số ma tuý này về nhà mình ở thôn Q, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên cất giấu: 04 cây Heroine và 50 viên ma tuý hồng phiến dưới gầm giường phòng ngủ tầng 2; còn 01 bánh Heroine cất giấu trong lồng máy giặt (không sử dụng) tại gian nhà ngang.

Đầu tháng 11/2024, T gọi điện cho Trần Hữu B (là bạn, quen biết nhau từ trước) nói mới mua được ma túy và bán số lượng nhiều, B có mua T bán cho. Biết Hoàng Quốc H1 đang có nhu cầu mua ma túy về bán kiếm lời nên B liên hệ, nói: T ở thành phố H bán ma túy, sẽ dẫn H1 sang gặp T để mua ma túy. Đầu tháng 11/2024, B dẫn H1 đến nhà T, tại phòng ngủ trên tầng hai, H1 đặt vấn đề mua của T 02 cây ma túy Heroine, T đồng ý bán cho H1 với giá 28.000.000 đồng/cây Heroine, tổng 56.000.000 đồng. H1 đồng ý mua, trả trước 30.000.000 đồng, xin nợ lại 26.000.000 đồng nhưng T không đồng ý. Thấy vậy, B nói với T cứ cho H1 nợ nên T đồng ý. T cân 02 cây ma túy Heroine, có tổng khối lượng 66 gam. H1 cầm túi ma túy giấu vào trong người cùng B đi về. Về đến nhà, H1 đem số ma tuý vừa mua được chia thành các gói nhỏ để bán và đã bán hết cho nhiều người, không quen biết tên, tuổi, địa chỉ của những người này.

Ngày 07/12/2024, do B đang còn nợ tiền T nên nhờ H1 sang nhà T mua hộ 06 chỉ Heroine về để bán kiếm lời, H1 đồng ý. Khoảng 11 giờ ngày 10/12/2024, H1 điện thoại để hẹn mua ma tuý rồi một mình đi sang nhà T hỏi mua 06 chỉ ma túy Heroine, T đồng ý với giá 18.000.000 đồng. T lấy ma tuý cho vào túi nilon rồi cân và đưa cho H1 06 chỉ, tổng khối lượng 20 gam Heroine. Hoàn trả T 18.000.000 đồng mua 06 chỉ Heroine và 26.000.000 đồng Bốn mua ma tuý còn nợ trước đó. Sau khi mua được ma tuý, H1 mang ma tuý đến nhà đưa cho B, B xem, nói ma tuý kém chất lượng nên không lấy. H1 mang số ma túy này về nhà tự chia nhỏ thành các gói nhỏ để bán kiếm lời và đã bán được một số gói ma tuý cho người không biết tên, địa chỉ. Trưa ngày 13/12/2024, H1 kiểm tra còn 07 gói ma túy Heroine tiếp tục mang đi gặp người mua sẽ bán. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi H1 đang đi trên đoạn đường ĐH 61 thuộc địa phận tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị Tổ công tác Công an huyện H yêu cầu kiểm tra. H1 tự nguyện lấy trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra giao nộp cho Tổ công tác 07 gói đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma tuý loại Heroine có khối lượng 0,4873 gam. Tiến hành kiểm tra người Hoàn phát hiện, thu giữ 01 điện thoại Iphone XS vỏ màu đen đã qua sử dụng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Quốc H1 tại tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình: Không phát hiện thu giữ gì.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn T tại thôn Q, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, thu giữ: Dưới gầm giường phòng ngủ tầng 2: 01 cân điện tử màu xám đã qua sử dụng; 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng; 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục; 01 túi nilon màu tím có mép cài viền màu đỏ, bên trong chứa 46 viên nén màu đỏ, 01 nửa viên nén màu đỏ, 01 viên nén màu xanh; 01 cuộn giấy tráng kim màu trắng đã qua sử dụng; 01 dao lam đã qua sử dụng. T4 trong lồng máy giặt để tại gian nhà ngang có 01 khối dạng hình hộp chữ nhật kích thước (15,5x10x2,5)cm, bên ngoài bọc nilon màu trắng, bên trong chứa khối chất bột màu trắng dạng cục.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Hữu B tại tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình: Phát hiện thu giữ trong phòng ngủ tầng 2: 01 cân điện tử vỏ màu xám đã cũ.

- Bản kết luận giám định số 1815/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

“Mẫu vật thu giữ của Hoàng Quốc H1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,4873 gam (Không phẩy bốn nghìn tám trăm bảy mươi ba gam).

Mẫu K1 quản lý của Hoàng Văn T gửi giám định:

+ 46 viên nén màu đỏ và một nửa viên nén màu đỏ là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 4,3595 gam (Bốn phẩy ba nghìn năm trăm chín mươi lăm gam).

+ 01 (một) viên nén màu xanh gửi giám định không phải ma túy (là caffeine), có khối lượng 0,1011 gam (Không phẩy một nghìn không trăm mười một gam).

Mẫu K2 quản lý của Hoàng Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 385,8854 gam (Ba trăm tám mươi lăm phẩy tám nghìn tám trăm năm mươi bốn gam)”.

- Bản cáo trạng số 65/CT-VKSTB ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Hoàng Văn T về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Quốc H1 và Trần Hữu B về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã kết luận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Hoàng Quốc H1 và Trần Hữu B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Về hình phạt:

- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 39, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/12/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Hoàng Quốc H1 từ 17 năm đến 18 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/12/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s, o, x khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Trần Hữu B từ 15 năm đến 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/12/2024.

+ Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt tiền bị cáo Hoàng Văn T từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước; bị cáo Hoàng Quốc H1 từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; bị cáo Trần Hữu B từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

+ Về vật chứng vụ, tài sản thu giữ: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong số 1815/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T, mặt trước ghi: Hoàn trả mẫu vật gửi giám định; 01 cân điện tử vỏ màu xám vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T đã qua sử dụng; 1 cuộn giấy tráng kim màu trắng đã qua sử dụng; 01 dao lam đã qua sử dụng; 01 cân điện tử vỏ màu xám vật chứng thu giữ của Trần Hữu B đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, đã qua sử dụng, của bị cáo H1; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, đã qua sử dụng, của bị cáo T.

- Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp lại số tiền 74.000.000 đồng (là tiền bị cáo T thu lời bất chính từ việc bán ma túy mà có) để nộp ngân sách nhà nước.

+ Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho các bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Quốc H1 tranh luận: Luật sư nhất trí với tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và điều luật đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo T và bị cáo H1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo H1 tự thú, có thời gian tham gia quân đội, các bị cáo tuổi đã cao, bị cáo T đang bị bệnh nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điển s, r (đối với bị cáo H1) khoản 1, khoản 2 (đối với bị cáo H1) Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo T được hưởng mức hình phạt tù có thời hạn và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Hữu B tranh luận: Nhất trí với tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và điều luật đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đề nghị áp dụng đối với bị cáo B. Bị cáo B luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, là người phạm tội đủ 70 tuổi trở lên, do đó đền nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B và áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo B.

- Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội đã gây ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa không có gì thay đổi so với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra vụ án. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người người chứng kiến. Ngoài ra, còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện H lập hồi 11 giờ 20 phút ngày 13/12/2024; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu do Công an huyện H lập hồi 13 giờ 10 phút ngày 13/12/2024, quản lý: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone XS màu đen đã qua sử dụng của Hoàng Quốc H1; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện H lập hồi 12 giờ 50 phút ngày 13/12/2024, niêm phong 07 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của Hoàng Quốc H1; Biên bản khám xét do Cơ quan điều tra Công an huyện H lập hồi 20 giờ 55 phút ngày 13/12/2024 tại chỗ ở của Hoàng Văn T, tại thôn Q, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan điều tra Công an huyện H lập hồi 21 giờ 25 phút ngày 13/12/2024 tại chỗ ở của Hoàng Văn T, tại thôn Q, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên niêm phong 01 túi nilon màu tím có mép cài viền màu đỏ, bên trong chứa 46 viên nén màu đỏ, 01 nửa viên nén màu đỏ, 01 viên nén màu xanh; 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục; 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng; 01 khối dạng hình hộp chữ nhật kích thước (15,5x10x2,5)cm, bên ngoài bọc nilon màu trắng, bên trong chứa khối chất bột màu trắng dạng cục; Biên bản khám xét do Cơ quan điều tra Công an huyện H lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 14/12/2024 tại chỗ ở của Trần Hữu B tại tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[3] Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Đầu tháng 11/2024, bị cáo B dẫn bị cáo H1 đến nhà bị cáo T để bị cáo H1 mua 02 cây ma tuý Heroin có tổng khối lượng 66 gam Heroine với giá 56.000.000 đồng, toàn bộ số ma túy này bị cáo H1 đã bán cho người không quen biết hết. Ngày 07/12/2024, bị cáo B nhờ bị cáo H1 sang nhà bị cáo T mua hộ 06 chỉ ma tuý loại Heroine, ngày 10/12/2024, bị cáo H1 một mình sang nhà bị cáo T mua 06 chỉ ma tuý Heroin có tổng khối lượng 20 gam mang về đưa cho bị cáo B nhưng bị cáo B không nhận, bị cáo H1 đem về chia thành nhiều túi nhỏ đem bán, đến ngày 13/12/2024, kiểm tra còn 7 gói Heroin có khối lượng 0,4873 gam bị cáo H1 đem đi bán bị Tổ công tác Công an huyện H phát hiện, kiểm tra thu giữ; Ngoài ra bị cáo T còn có hành vi cất giấy 4,3595 gam ma túy loại Methamphetamine và 385,8854 gam ma túy, loại Heroine tại chỗ ở của mình với mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy Hoàng Văn T đã mua bán là 471,8854 gam Heroin và 4,3595 gam Methamphetamine; Hoàng Quốc H1 và Trần Văn B1 đã mua bán là 86 gam Heroine.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội. Các bị cáo đều là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; các bị cáo biết rõ tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới; là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS; hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước, Đ và nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để phòng chống tác hại của ma tuý và đặt ra chế tài xử lý nghiêm khắc đối với tội phạm về ma tuý nhưng chỉ vì lợi ích trước mắt của bản thân, các bị cáo đã bất chấp pháp luật, đã cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, gieo rắc cái chết trắng cho đồng loại.

[5] Trên cơ sở đó có đủ căn cứ kết luận: Hành vi mua bán trái phép 471,8854 gam ma túy loại Heroine; 4,3595 gam ma túy loại Methamphetamine của bị cáo T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự và hành vi mua bán trái phép 86 gam ma túy loại Heroine của bị cáo H1 và bị cáo B1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

b) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[6.1] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo T, H1, B1 đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Quốc H1 tự thú khai nhận ra hành vi mua 2 cây ma túy Heroine của bị cáo Hoàng Văn T, có thời gian tham gia Q nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Hữu B có thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất năm 2011 và là người phạm tội đủ 70 tuổi trở lên nên hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tính chất mức độ hành vi của các bị cáo, xét thấy: Các bị cáo cùng trực tiếp thực hiện hành vi giao dịch mua bán trái phép 86 gam ma túy loại Heroine. Bị cáo T mua bán trái phép tổng số lượng 471,8854 gam ma túy loại Heroine và 4,3595 gam ma túy loại Methamphetamine, bị cáo H1, bị cáo B mua bán 86 gam loại ma túy Heroine. Do đó, cần xử phạt bị cáo B, bị cáo H1 mức hình phạt tương xứng với mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, xử phạt bị cáo T mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời là bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Theo Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Số ma tuý thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành, 01 cân điện tử màu xám của T, 01 cuộn giấy tráng kim màu trắng, 01 dao lam; 01 cân điện tử màu xám vật chứng thu giữ của Trần Hữu B là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo H1, do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo T do bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

- Số tiền 74.000.000 đồng bị cáo T thu được từ việc bán ma túy là số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm cần buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 74.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

[10] Những nội dung khác liên quan đến vụ án:

+ Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Hoàng Văn T khai mua của một người dân tộc H Mông tự giới thiệu tên S2 ở huyện M, tỉnh Sơn La, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

+ Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bà Hoàng Thị H và chị Hoàng Thị H4 là vợ và con gái của bị cáo Hoàng Văn T có đơn kiến nghị xem xét cho bị cáo Hoàng Văn T được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, xét thấy bị cáo T phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo, bà H, chị H4 không đưa ra tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu thay thế biện pháp ngăn chặn. Do đó, căn cứ Điều 123, Điều 125, Điều 278 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không có căn cứ thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo Hoàng Văn T

[11] Về án phí: Các bị cáo là người cao tuổi và xin miễn án phí, do đó cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Hoàng Quốc H1 và Trần Hữu B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng: Điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 39, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/12/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn T 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

2.2. Áp dụng: Điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Quốc H1 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/12/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Quốc H1 7.000.000 đồng (Bảy triệu đổng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

2.3. Áp dụng: Điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm s, o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hữu B 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/12/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Trần Hữu B 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật số 1815/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T; 01 cân điện tử vỏ màu xám vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T đã qua sử dụng; 1 cuộn giấy tráng kim màu trắng đã qua sử dụng; 01 dao lam đã qua sử dụng; 01 cân điện tử vỏ màu xám vật chứng thu giữ của Trần Hữu B đã qua sử dụng.

3.2. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo H1; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo T.

3.2. Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp số tiền 74.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Số vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 29/4/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hoàng Văn T, Hoàng Quốc H1 và Trần Hữu B.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger