Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 64/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/03/2025

“V/v: Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Nguyên Phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan- Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 2471/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXX-ST ngày 12/02/2025; Quyết định hoãn phiên Toà số 589/2025/QĐST-DS ngày 06/03/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1967.

Địa chỉ: 1, đường Đ, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: 5, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

( Ông H có đơn xin xét xử vắng mặt, bà L vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn ông Phan Văn H trình bày: ông và bà Nguyễn Thị L xây dựng gia đình với nhau vào năm 1989 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ý kết hôn. Quá trình chung sống đến năm 2011 ông bị bệnh lao phổi nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn gây gỗ, đánh nhau làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Đến năm 2017 vợ chồng sống riêng cho đến nay, ông sống tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bà L sống tại phường L thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Xét tình cảm không còn nên ông xin ly hôn

Về con chung: có 02 cháu tên là Phan Văn T sinh ngày: 25/03/1990; Phan Thị Thanh M, sinh ngày: 04/11/1990. Hiện các cháu đã trưởng thành, có khả năng lao động được

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bà L vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ kiện.

* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn, chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phan Văn H.

Về con chung: có 02 cháu tên là Phan Văn T sinh ngày: 25/03/1990; Phan Thị Thanh M, sinh ngày: 04/11/1990. Hiện các cháu đã trưởng thành, có khả năng lao động được nên không đặt ra giải quyết

Về tài sản chung + nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Ông H phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng : Ông Phan Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2016, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H bà L là phù hợp.

[2] Về thẩm quyền xét xử: Bà Nguyễn Thị L có sinh sống tại địa chỉ 5, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điều 28, 35, 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2016 Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị L tự nguyện tìm hiểu, sống chung với nhau vào năm 1989, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên xác định quan hệ hôn nhân của ông H bà L là hợp pháp. Nay ông H xin ly hôn, Tòa án căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[4] Về yêu cầu xin ly hôn của ông H: Ông H xin ly hôn với bà L với lý do năm 2011 ông bị bệnh lao phổi nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn gây gỗ, đánh nhau làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Đến năm 2017 vợ chồng sống riêng cho đến nay, ông sống tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bà L sống tại phường L thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Xét tình cảm không còn nên ông xin ly hôn.

Về phía bà L vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ kiện.

Trên cơ sở hồ sơ vụ kiện, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của ông H và bà L là có thật và thực sự đã trầm trọng bỡi lẽ từ khi thụ lý vụ kiện, Toà án đã triệu tập bà L rất nhiều lần làm việc, hoà giải, công khai chứng cứ, xét xử nhưng bà L vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy bản thân bà L đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình nên cho dù có hàn gắn đoàn tụ ông bà cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H. Cho ông H được ly hôn với bà L là phù hợp.

[5] Về con chung: có 02 cháu tên là Phan Văn T sinh ngày: 25/03/1990; Phan Thị Thanh M, sinh ngày: 04/11/1990. Hiện các cháu đã trưởng thành, có khả năng lao động được nên không đặt ra giải quyết

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về án phí HNGĐ sơ thẩm: ông H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[8] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 203, khoản 3 điều 228; 235, 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2016;
  • - Áp dụng điều 51, 53, 54, 56, 57, 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
  1. Tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Phan Văn H. Ông Phan Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
  2. Về con chung: có 02 cháu tên là Phan Văn T sinh ngày: 25/03/1990; Phan Thị Thanh M, sinh ngày: 04/11/1990. Hiện các cháu đã trưởng thành, có khả năng lao động được nên không đặt ra giải quyết
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Văn H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0004267 ngày 1610/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Đồng Nai (2);
  • -VKSND thành phố Biên Hòa (2);
  • -THA Dân sự thành phố Biên Hòa (1);
  • TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (1);
  • -Cơ quan cấp giấy kết hôn (1)
  • -Đương sự (2)
  • -Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mộng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 64/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông H yêu cầu ly hôn với bà L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger