Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 64/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08 - 4 - 2025

Về việc tranh chấp

“Ly hôn và nuôi con chung"

 

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chí Lin.
  2. Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 73/2025/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1973.

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Anh Lê Ngọc T, sinh năm 1970.

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Chị N và anh T xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/01/2025 và những lời khai tiếp theo của chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn trình bày như sau:

Chị và anh T có tìm hiểu nhau thời gian, sau đó chị và anh T chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc được thời gian, đến tháng 06 năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống không phù hợp, mâu thuẫn về kinh tế, đồng thời anh T đánh chị nhiều lần. Chị và anh T đã xa nhau từ tháng 12 năm 2024 đến nay.

Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T chung sống được 01 con chung tên Lê Nguyễn Anh Phát S ngày 26/10/2015, anh T đang nuôi, khi ly hôn chị xin được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị và anh T không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Ngọc T trình bày: Anh xác định điều kiện kết hôn, thời gian chung sống và con chung là đúng theo lời trình bày của chị N. Anh và chị N chung sống hạnh phúc thời gian đầu, đến tháng 6 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do mâu thuẩn về kinh tế, thời xuyên cải nhau, sau đó chị N tự bỏ nhà đi từ tháng 12 năm 2024 cho đến nay.

Nay chị N xin ly hôn, anh không đồng ý. Trường hợp Tòa án cho ly hôn anh xin được nuôi con, anh không yêu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; A và chị N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh và chị N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị Nguyễn Thị N và anh Lê Ngọc T không thỏa thuận nhau được, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là những tranh chấp quy định tại Điều 28, Điều 29 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Lê Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An, nên căn cứ Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

[1.2]. Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết:

Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với anh Lê Ngọc T nên chị N được xác định là nguyên đơn, anh T là bị đơn.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Lê Ngọc T có đơn xin vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị N và anh Lê Ngọc T.

Vụ án hôn nhân gia đình không xác định thời hiệu.

Tòa án chỉ xét xử vụ án trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn.

[1.3]. Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng:

Chị Nguyễn Thị N cho rằng, chị và anh T chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An vào năm 2015, nên hôn nhân giữa chị N và anh T là hôn nhân hợp pháp theo quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Pháp luật được áp dụng giải quyết là Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật hôn nhân gia đình và các văn bản khác hướng dẫn về giải quyết vụ án hôn nhân gia đình.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N và anh T trên cơ sở tự nguyện, chị N cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa chị N và anh T thời gian đầu hạnh phúc đến tháng 6 năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống không phù hợp, mâu thuẫn về kinh tế, đồng thời anh T đánh chị nhiều lần. Chị và anh T đã xa nhau từ tháng 12 năm 2024 đến nay. Việc này được anh Lê Ngọc T thừa nhận.

Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị N và anh Lê Ngọc T xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi chị N và anh T xa nhau, anh T không đưa ra hướng đoàn tụ với chị N. Từ đó đời sống chung vợ chồng của chị N và anh T không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh T là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2]. Về con chung: Chị N và anh T chung sống có 01 con chung tên Lê Nguyễn Anh Phát S ngày 26/10/2015. Khi ly hôn chị N và anh T đều xin được nuôi con.

Thấy rằng: Từ khi chị N và anh T ly thân nhau, anh T trực tiếp nuôi con, đồng thời tại bản tự khai cháu Lê Nguyễn Anh P có nguyện vọng muốn sống với anh T. Do đó để đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ nhỏ, nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục giao cho anh T tiếp tục nuôi con là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung; Chị N và anh T khai không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Chị N và anh T xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Điều 227 khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều, 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N đối với anh Lê Ngọc T về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lê Ngọc T.
  2. Về con chung: Anh T được tiếp tục nuôi con chung tên Lê Nguyễn Anh Phát S ngày 26/10/2015 (anh T đang nuôi) Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh T không yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung: Chị N và anh T khai không có.
  4. Về nợ chung: Chị N và anh T xác định không có.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0014840 ngày 20/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An sang án phí để thi hành. Như vậy chị N không phải nộp tiếp.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

 

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Bình A

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 64/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger