|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2025/DS-ST. Ngày: 10/6/2025. V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Em
2. Ông Đặng Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hiệp – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 346/2024/TLST-DS ngày 23/10/2024, về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử số 20/2025/QĐ-GHXX ngày 24/02/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-DS ngày 23/4/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 53/2025/QĐST-DS ngày 23/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đỗ Ngọc M, sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1952
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- A - sinh năm 1964
- Võ Thị Hồng Y – sinh năm 1967 (vợ ông Đỗ Văn T1)
- Đỗ Thị Lộc – sinh năm 1970
- Đỗ Ngọc C – sinh năm 1972
- Đỗ Thị Kim Liên – sinh năm 1974
- Đỗ Minh H4 – sinh năm 1982
- Đỗ Ngọc H3 – sinh năm 1989 (con ông Đỗ Văn T1)
- Đỗ Ngọc T3 – sinh năm 1991 (con ông Đỗ Văn T1)
- Đỗ Văn Tiến – sinh năm 1993 (con ông Đỗ Văn T1)
- Đỗ Thị Trúc Uyên – sinh năm 1995 (con ông Đỗ Văn T1)
- Huỳnh Thị Kim Hương – sinh năm 1981 (vợ ông Đỗ Ngọc M)
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Cùng địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị Kim H1:
Ông Đỗ Ngọc M, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người làm chứng: Bà Phạm Thị Bích H2 – sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt: Ông Đỗ Ngọc M, ông Đỗ Văn T2, bà Võ Thị Hồng Y, bà Đỗ Thị Kim L, ông Đỗ Ngọc H3, ông Đỗ Ngọc T3.
Các đương sự còn lại vắng mặt gồm: Ông Đỗ Văn T, bà Đỗ Thị L1, ông Đỗ Ngọc C, ông Đỗ Minh H4, ông Đỗ Văn T4, bà Đỗ Thị Trúc U.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/7/2024, bản khai và lời khai của nguyên đơn ông Đỗ Ngọc M trình bày: Về quan hệ gia đình của ông như sau: Cha ông là ông Đỗ Văn Đ - sinh năm 1937 chết năm 2011 và mẹ là bà Nguyễn Thị C1 – sinh năm 1937 chết năm 2022. Ông nội: Đỗ Ngô chết năm 1961. Bà nội: Lê Thị Đ1 chết năm 1959; Ông ngoại: Nguyễn Kỹ chết năm 1974; Bà ngoại: Đặng Thị T5 chết năm 2001; Cha mẹ ông sinh ra 08 người con, theo thứ tự sau: Ông Đỗ Văn T - sinh năm 1962; ông Đỗ Văn T2 - sinh năm 1964; ông Đỗ Văn T1 - sinh năm 1966 (chết năm 2017); Bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1970; ông Đỗ Ngọc C – sinh năm 1972; bà Đỗ Thị Kim L - sinh năm 1974; Ông Đỗ Ngọc M - sinh năm 1977 là ông; ông Đỗ Minh H4, sinh năm 1982. Ông Đỗ Văn T1 chết có 04 con là: Anh Đỗ Ngọc H3, sinh năm 1989, anh Đỗ Ngọc T3 – sinh năm 1991, anh Đỗ Ngọc T6 – sinh năm 1993 và chị Đỗ Thị Trúc U - sinh năm 1995. Ông Đỗ Ngọc Minh xác Đ2 cha mẹ ông chết để Tờ di chúc ngày 06/6/2010 và ông yêu cầu chia tài sản theo di chúc này. Nội dung Tờ di chúc như sau: “Tôi tên là Đỗ Văn Đ - sinh năm 1937, giấy chứng minh nhân dân số [...], vợ tên là Nguyễn Thị C1 – sinh năm 1937, giấy chứng minh nhân dân số [...], đồng thường trú tại khu phố P, thị trấn P, huyện H - Bình Thuận. Hôm nay vợ chồng tôi còn minh mẫn và đủ khả năng làm giấy di chúc này cho vợ chồng người con thứ 9 tên là Đỗ Ngọc M – sinh năm 1977 và vợ là Huỳnh Thị Kim H1 – sinh năm 1981 đồng thường trú thôn E, xã H, huyện H - Bình Thuận. vì vợ chồng tôi nay đã già sức yếu nên vợ chồng tôi quyết định làm di chúc này cho hai vợ chồng đứa con nêu trên với phần tài sản gồm có: 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1975 trên thửa đất diện tích 400m², 01 thửa ruộng diện tích 5.000.000m², 01 tủ thờ để cúng ông bà, 01 tủ phê, 01 tủ đứng, 01 bàn chữ U, 01 bà S, 01 bộ ván, 01 xe gắn máy biển số 86H5-8503 và một số vật dụng khác. Vợ chồng Minh H5 phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ già khi ốm đau và lo mọi thứ cúng kính sau này khi cha mẹ qua đời. Có trách nhiệm gìn giữ những gì cha mẹ để lại, khi bán hoặc sang nhượng phải có sự đồng ý của các anh chị em trong gia đình. Các con trong gia đình thống nhất bản di chúc, không có tranh chấp hay khiếu nại gì và đồng ý ký tên”.
Nay ông Đỗ Ngọc M khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo di chúc ngày 06/6/2010 cho ông được hưởng các tài sản như sau: Diện tích đất ở đo đạc hiện trạng 200m² và diện tích 195,8m² cây lâu năm chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên diện tích đất ở 200m² có các loại tài sản sau: Nhà trước 01 tầng có diện tích 55,5m², móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch quét sơn nước, mái ngói cửa gỗ. Nhà sau 01 tầng có diện tích 51m², móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch quét sơn nước, mái tôn cửa gỗ. Cùng một số tài sản khác như: 01 tủ thờ ngang 0,5m rộng 1,07m cao 1,32m; 01 tủ phê ngang 0,6m dài 1,4m; 01 bà chữ U dài 1,4m ngang 0,7m; 04 cái ghế dựa; 01 bàn Salon dài 1,15m rộng 0,55m; 02 ghế salon đơn, 01 ghế salon đôi song gỗ; 01 bộ ván gỗ gõ 03 tấm dài 1,6m rộng 2,25m và 01 tủ đứng 02 cánh cao 1,9m rộng 0,5m. Đối với diện tích ruộng 5.000m² và xe máy biển số 86H-8503 trong di chúc nêu nhưng không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Đỗ Văn T vắng mặt nhưng tại bản khai ngày 15/11/2024 trình bày: Ông là con của ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1. Về quan hệ gia đình như ông Đỗ Ngọc M khai ông xác nhận đúng. Cha, mẹ ông chết có để lại di chúc ngày 06/6/2010. Ông không đồng ý chia thừa kế cho ông M vì ba lý do: Một là chia thừa kế cho một mình ông M nếu ông M gặp sự cố gì thì ai lo thờ cúng ông bà cha mẹ ông. Hai là ông sợ ông M có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi đem đi bán cho người khác, không có nhà thờ cúng. Ba là ông M không có lo cho cha mẹ gì cả, ăn sáng, ăn trưa cha mẹ phải tự tay nấu ăn, khi cha mẹ bệnh đau thì ông bỏ tiền ra lo cho cha mẹ, từ đó ông M không xứng đáng nhận thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn T2 trình bày: Ông là con của ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1. Về quan hệ gia đình như ông Đỗ Ngọc M khai ông xác nhận đúng. Di sản của cha mẹ để lại như ông M trình bày là đúng. Tờ di chúc ngày 06/6/2010 pho to là không hợp lệ. Tài sản của cha mẹ tôi không giao cho em M bởi lý do vợ em M từ chối không nhận tài sản của cha mẹ tôi. Nay tôi yêu cầu tài sản của cha mẹ tôi không chia cho ai cả để làm nhà tự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị L1 trình bày: Bà là con của ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1. Về quan hệ gia đình như ông Đỗ Ngọc M khai bà xác nhận đúng. Di sản của cha mẹ để lại như ông M trình bày là đúng, khi cha mẹ bà còn sống có làm di chúc nhưng bà không biết ngày tháng năm nào, nhưng nội dung di chúc để cho ông Đỗ Ngọc M được hưởng các loại tài sản: 01 căn nhà cấp 4 trên diện tích 400m² tọa lạc tại khu phố P, thị trấn P, đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 01 tủ thờ; 01 tủ phê; 01 tủ đứng; 01 bàn chữ U; 01 bàn Salon; 01 bộ ván 4 tấm gỗ gõ. Theo yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Ngọc M thì bà đồng ý chia tất cả các loại tài sản trên cho ông M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Ngọc C vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 18/11/2024 trình bày: Ông là con của ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1. Về quan hệ gia đình như ông Đỗ Ngọc M khai ông xác nhận đúng. Di sản của cha mẹ để lại như ông M trình bày là đúng, khi cha mẹ ông còn sống có làm di chúc nhưng ông không biết di chúc ngày tháng năm nào, cũng không biết nội dung di chúc như thế nào. Theo yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Ngọc M thì ông không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Kim L trình bày: Bà là con của ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1. Về quan hệ gia đình như ông Đỗ Ngọc M khai bà xác nhận đúng. Di sản của cha mẹ để lại như ông M trình bày là đúng. Khi cha mẹ bà còn sống có viết tờ di chúc ngày 06/6/2010 để cho Đỗ Ngọc M được hưởng các loại tài sản: 01 căn nhà cấp 4 trên diện tích 400m² tọa lạc tại khu phố P, thị trấn P, đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 01 tủ thờ; 01 tủ phê; 01 tủ đứng; 01 bàn chữ U; 01 bàn Salon; 01 bộ ván 4 tấm gỗ gõ. Theo yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Ngọc M thì bà đồng ý chia tất cả các loại tài sản trên cho ông M vì ông M nuôi cha mẹ lúc ốm đau bệnh tật cho đến chết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Minh H4 vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 15/4/2025 trình bày: Ông là con của ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1. Về quan hệ gia đình như ông Đỗ Ngọc M khai và di sản của cha mẹ để lại như ông M trình bày là đúng. Khi cha mẹ ông còn sống có viết tờ di chúc ngày 06/6/2010 để cho Đỗ Ngọc M được hưởng các loại tài sản: 01 căn nhà cấp 4 trên diện tích 400m² tọa lạc tại khu phố P, thị trấn P, đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 01 tủ thờ; 01 tủ phê; 01 tủ đứng; 01 bàn chữ U; 01 bàn Salon; 01 bộ ván 4 tấm gỗ gõ. Theo yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Ngọc M thì ông đề nghị Tòa án xem xét nếu bản di chúc ngày 06/6/2010 là đúng pháp luật thì ông đồng ý chia di sản cho ông M theo di chúc còn nếu di chúc không hợp pháp thì đề nghị chia thừa kế theo pháp luật, ông xin nhận phần được chia bằng tiền hay hiện vật cũng được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Kim H1 ủy quyền cho ông Đỗ Ngọc M trình bày: Bà Huỳnh Thị Kim H1 là vợ của tôi (Đỗ Ngọc M). Sau khi tôi kết hôn với tôi (Đỗ Ngọc M) thì tôi và bà H1 sống chung với cha mẹ là ông là ông Đỗ Văn Đ - sinh năm 1937 chết năm 2011 và mẹ là bà Nguyễn Thị C1 – sinh năm 1937 chết năm 2022. Tôi và bà H1 chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ tôi khi còn sống. Ngày 06/6/2010, cha mẹ tôi có lập di chúc giao cho vợ chồng tôi được hưởng 01 căn nhà cấp bốn xây dựng trên diện tích 200m² đất thổ cư và 195,8m² đất trồng cây lâu năm ở sau nhà, cùng với các tài sản có trong nhà gồm: 01 bàn thờ, 01 tủ phê, 01 tủ đứng, 01 bàn chữ U, 01 bàn Salon và 01 bộ ván. Vợ chồng tôi được hưởng toàn bộ nhà và đất. Nay do anh Đỗ Văn T không chịu ký Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cho tôi và bà H1 làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng tôi nên tôi khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo di chúc. Bà H1 đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của tôi là yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận di chúc ngày 06/6/2010 là hợp pháp và giao cho vợ chồng tôi được hưởng các loại tài sản như: 01 căn nhà cấp bốn xây dựng trên diện tích 200m² đất thổ cư và 195,8m² đất trồng cây lâu năm ở sau nhà, cùng với các tài sản có trong nhà gồm: 01 bàn thờ, 01 tủ phê, 01 tủ đứng, 01 bàn chữ U, 01 bàn Salon và 01 bộ ván. Đối với diện tích ruộng 5.000m² và xe máy biển số 86H-8503 trong di chúc nêu không yêu cầu giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Ngọc H3 và Đỗ Ngọc T3 trình bày: Ông là con của ông Đỗ Văn T1 đã chết năm 2017. Về quan hệ gia đình như ông Đỗ Ngọc M khai và di sản của ông bà nội để lại như ông M trình bày là đúng. Hai ông xác định là không biết ông bà nội là ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 chết có để lại di chúc hay không. Theo yêu cầu ủa ông Đỗ Ngọc M thì hai ông không đồng ý chia thừa kế cho ông M mà đề nghị chia thừa kế theo pháp luật, phần của hai ông bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn T4 và Đỗ Thị Trúc U vắng mặt nhưng tại Văn bản từ chối nhận di sản ngày 07/5/2024 trình bày: Ông bà là con ruột của ông Đỗ Văn T1 đã chết năm 2017, ông nội tên Đỗ Văn Đ - sinh năm 1937 chết năm 2011 và bà nội tên Nguyễn Thị C1 – sinh năm 1937 chết năm 2022. Ông bà nội chết để lại thửa đất số 225, tờ bản đồ số 60(215459-5-(4)), diện tích 200m² mục đích sử dụng ONT và thửa đất số 109, tờ bản đồ số 60(215459-5-(4)), diện tích 195,3m² mục đích sử dụng CLN, tọa lạc tại Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bằng văn bản này, chúng tôi Đỗ Văn T4 và Đỗ Thị trúc U tự nguyện từ chối nhận phần di sản mà chúng tôi được hưởng của ông N, bà N để lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Hồng Y trình bày: Bà là vợ của ông Đỗ Văn T1 – sinh năm 1966 chết năm 2017. Về quan hệ gia đình như ông Đỗ Ngọc M khai là đúng, bà không bổ sung gì. Khi cha mẹ chồng bà còn sống có để lại di chúc ngày 06/6/2010. Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Ngọc M là giao nhà và đất cho ông M mà để làm nhà thờ cúng ông bà.
Người làm chứng bà Phan Thị Bích H6 trình bày: Bà là người có ký xác nhận vào di chúc ngày 06/6/2010, ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 có ký vào bản di chúc ngày 06/6/2010 trước mặt bà. Khi ký vô bản di chúc này thì ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 còn minh mẫn, không ai ép buộc.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Công nhận Tờ chúc ngày 06/6/2010 của cụ ông Đỗ Văn Đ và cụ bà Nguyễn Thị C1 là hợp pháp. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Ngọc M về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ ông Đỗ Văn Đ và cụ bà Nguyễn Thị C1 theo di chúc ngày 06/6/2010.
* Xác định di sản thừa kế của ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 chết để lại có tổng trị giá trị là 894.820.000đồng được chia theo di chúc lập ngày 06/6/2010 cho vợ chồng ông Đỗ Ngọc M và bà Huỳnh Thị Kim H1 được hưởng gồm: Diện tích đất ở 200m² trị giá 800.000.000đồng; Diện tích đất trồng cây lâu năm 195,8m² trị giá 48.950.000đ; 01 nhà trước 1 tầng diện tích 55,5m² móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch quét sơn nước, mái ngói, cửa gỗ, trị giá 29.970.000đồng; 01 Nhà sau 01 tầng có diện tích 51m², móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch quét sơn nước, mái tôn, cửa gỗ không còn giá trị sử dụng; 01 tủ thờ gỗ gõ ngang 50cm, rộng 1,07m cao 1,32m giá 1.600.000đồng; 01 tủ đứng 2 canh gỗ gõ ngang 2,05m, cao 1,9m, rộng 0,5m giá 1.500.000đồng; 01 bộ ván ngựa 03 tấm gỗ gõ dài 1,6m rộng 2,25m giá 10.000.000đồng; 01 bàn chữ U gỗ gõ ngang 0,7m dài 1,4m giá 800.000đồng; 01 bộ bàn Salon gỗ gõ xong 3 ghế giá 1.000.000đ; 01 tủ phê gỗ gõ dài 1,4m rộng 0,6m trị giá 1.000.000đ.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng các bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau. Các đương sự đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của ông Đỗ Văn T, bà Đỗ Thị L1, ông Đỗ Ngọc C, ông Đỗ Minh H4, ông Đỗ Văn T4, bà Đỗ Thị Trúc U không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa, các đương sự đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông có đơn xin xét xử vắng mặt, chứng tỏ ông, bà đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Đỗ Văn T, bà Đỗ Thị L1, ông Đỗ Ngọc C, ông Đỗ Minh H4, ông Đỗ Văn T4, bà Đỗ Thị Trúc U.
[1]Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-DS ngày 23/4/2025 đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” qua thẩm tra tài liệu, chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa thì Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” được quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú và tài sản tranh chấp tại thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a, c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.
[2]Về áp dụng pháp luật: Di chúc lập ngày 06/6/2010 là thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết.
[3]Kết quả thu thập chứng cứ: Tại Văn bản số 57/UBND-VPPL ngày 11/3/205 của Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận xác định: Nhà trước 01 tầng có diện tích 55,5m², móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch mái ngói quét sơn nước, cửa gỗ. Nhà sau 01 tầng có diện tích 51m², móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch mái tôn, quét sơn nước, cửa gỗ. Mái che khung sắt tiền chế diện tích 22,23 m². Nhà vệ sinh thường diện tích 6,3 m². Tường rào xây gạch trên có khung sắt cao 1,7m dài 10m. Nhà và đất chưa được cấp quyền sở hữu nhà cho ai. Kiểm tra bản đồ giải thửa 299 xác lập năm 1989 và sổ đăng ký ruộng đất măm 1984, ông Đỗ Đông C2 đăng ký thửa đất số 307/192m² ; Loại đất: T(thổ cư); tờ bản đồ số 01TC/HTX1; thuộc thôn N, xã H (nay là khu phố P, thị trấn P). Năm 2003, thị trấn P được đo đạc bản đồ địa chính, nghiệm thu đưa vào sử dụng năm 2007 và sổ mục kê đăng ký đất đai năm 2008 quy chủ sử dụng đứng tên ông Đỗ Văn Đ cụ thể thửa đất số 109/428,1 m²; MĐSD: ODT, tờ bản đồ số 60; thuộc khu phố P, thị trấn P. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện đất ở 200m² và diện tích 195,8m² đất trồng cây lâu năm cho ai trong vụ án này là thuộc thẩm quyền quyết định của Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền. Ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 hoặc hộ ông Đ và bà C1 được lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này, phải thực hiện văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật (nếu trường hợp không có tranh chấp).
[4] Xét yêu cầu tranh chấp chia di sản thừa kế của nguyên đơn ông Đỗ Ngọc M Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1]Về nguồn gốc đất: Diện tích đất đo đạc hiện trạng 200m² đất ở và diện tích 195,8m² cây lâu năm chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân thị trấn P trả lời là của vợ chồng ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 tạo lập trước năm 1975 và sử dụng ổn định đến khi chết. Cả nguyên đơn, bị đơn cũng như những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều xác định đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông Đ và bà C1 đã sử dụng đất liên tục, ổn định cho đến khi ông Đ bà C1 chết. Trong quá trình sử dụng ông Đ và bà C1 có đăng ký kê khai sử dụng đất và không ai tranh chấp. Việc sử dụng này là ngay tình liên tục đến nay hơn 30 năm. Căn cứ vào khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2005 thì ông Đ và bà C1 trở thành chủ sở hữu đất nêu trên.
[4.2]Xét di chúc ngày 06/6/2010: Trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa các đương sự đều thừa nhận ông Đ và bà C1 có lập di chúc chung, khi lập di chúc ông Đ và bà C1 có trực tiếp ký vào di chúc, lúc này ông Đ và bà C1 còn minh mẫn sáng, suốt không bị đe dọa cưỡng ép, như vậy căn cứ vào các Điều 648, 652, 653 Bộ luật dân sự năm 2005 thì di chúc ngày 06/6/2010 của ông Đ và bà C1 hội đủ các điều kiện pháp luật qui định. Do đó, phải tôn trọng và chấp nhận ý chí của ông Đ và bà C1 trong bản di chúc này nên là di chúc hợp pháp. Ông Đỗ Văn T và ông Đỗ Văn T2 cho là chữ ký của hai ông cùng với chữ ký của ông Đ và bà C1 trong bản di chúc này là do ông Đỗ Ngọc Minh S1 vào nhưng không có chứng cứ gì chứng minh nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Tại Tòa ông Đỗ Văn T2 cho rằng ông không có ký và di chúc ngày 06/6/2010 nên không đồng ý giao nhà đất cho ông Đỗ Ngọc M như trong di chúc nêu, Hội đồng xét xử thấy rằng, di sản để lại là của vợ chồng ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 thì ông Đ và bà C1 có quyền định đoạt cho ai là quyền của họ, việc ông T2 không ký vào bản di chúc không làm mất đi tính hợp pháp của di chúc nên không chấp nhận.
[4.3]Về di sản thừa kế: Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án và với kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các đồng thừa kế thống nhất di sản thừa kế của ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 để lại gồm có: Diện tích đất ở 200m² trị giá 800.000.000đồng; Diện tích đất trồng cây lâu năm 195,8m² trị giá 48.950.000đ; 01 nhà trước 1 tầng diện tích 55,5m² móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch quét sơn nước, mái ngói, cửa gỗ, trị giá 29.970.000đồng; 01 Nhà sau 01 tầng có diện tích 51m², móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch quét sơn nước, mái tôn, cửa gỗ không còn giá trị sử dụng; 01 tủ thờ gỗ gõ kích thước ngang 50cm, rộng 1,07m cao 1,32m giá 1.600.000đồng; 01 tủ đứng 2 cánh gỗ gõ kích thước ngang 2,05m, cao 1,9m, rộng 0,5m giá 1.500.000đồng; 01 bộ ván ngựa 03 tấm gỗ gõ kích thước dài 1,6m rộng 2,25m giá 10.000.000đồng; 01 bàn chữ U gỗ gõ kích thước ngang 0,7m dài 1,4m giá 800.000đồng; 01 bộ bàn Salon gỗ gõ xong và 03 cái ghế giá 1.000.000đ; 01 tủ phê gỗ gõ kích thước rộng 0,6m dài 1,4m trị giá 1.000.000đ. Tổng trị giá di sản thừa kế: 894.820.000đồng. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Ngọc M phù hợp với nội dung di chúc lập ngày 06/6/2010, như phân tích trên di chúc ngày 06/6/2010 là hợp pháp nên di sản của ông Đ và bà C1 được chia theo di chúc lập ngày 06/6/2010 cho vợ chồng ông Đỗ Ngọc M và bà Huỳnh Thị Kim H1. Do đó, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4.4] Đối với các loại tài sản không có trong di chúc như: Mái che khung sắt tiền chế diện tích 22,23m² trị giá 410.000đ; Nhà vệ sinh diện tích 6,3m² trị giá 4.347.000đ; Tường rào xây gạch trên có khung sắt dài 10m trị giá 2.496.000đ; Cửa cổng 02 cánh diện tích 2m² trị giá 1.240.000đ; 01 cây me trên đất trị giá 400.000đồng; 01 cây phát tài trị giá 48.000đ; 04 cây mãng cầu nhỏ trị giá 191.600.000đ; 03 cây bưởi trị giá 2.130.000đ; 01 cây nhãn trị giá 129.000đ là tài sản gắn liền với đất do ông Đ và bà C1 tạo lập khi còn sống nhưng không ai yêu cầu chia thừa kế nên giao cho ông M và bà H1 sử dụng. Đối với diện tích đất ruộng 5.000m² và 01 xe máy biển số 86H-8503 có trong di chúc nhưng ông Đỗ Ngọc M không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.
[5]Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay là thỏa đáng phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[6] Về án phí và chi phí tố tụng:
- Ông Đỗ Ngọc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất theo quy định của pháp luật.
- Ông Đỗ Văn T, Đỗ Văn T2, bà Võ Thị Hồng Y, Đỗ Thị L1, Đỗ Ngọc C, Đỗ Thị Kim L, Đỗ Minh H4, Đỗ Ngọc H3, Đỗ Ngọc T3, Đỗ Văn T4, Đỗ Thị Trúc U không phải chịu án phí, lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 273, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 631, 632, 633, 634, 635, 646, 649, 650, 652, 653, 655 Bộ luật dân sự năm 2005. Khoản 8 Điều 26, Khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai năm 2024, Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Công nhận Tờ di chúc lập ngày 06/6/2010 của cụ ông Đỗ Văn Đ và cụ bà Nguyễn Thị C1 là hợp pháp. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Ngọc M về việc yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc ngày 06/6/2010 như sau:
* Xác định di sản thừa kế của vợ chồng ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 chết để lại có tổng trị giá trị là 894.820.000đồng được chia theo di chúc lập ngày 06/6/2010 cho vợ chồng ông Đỗ Ngọc M và bà Huỳnh Thị Kim H1 được hưởng gồm: Diện tích đất ở 200m² trị giá 800.000.000đồng; Diện tích đất trồng cây lâu năm 195,8m² trị giá 48.950.000đ; 01 nhà trước 1 tầng diện tích 55,5m² móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch quét sơn nước, mái ngói, cửa gỗ, trị giá 29.970.000đồng; 01 Nhà sau 01 tầng có diện tích 51m², móng đá chẻ, nền gạch hoa, tường xây gạch quét sơn nước, mái tôn, cửa gỗ không còn giá trị sử dụng; 01 tủ thờ gỗ gõ kích thước: ngang 50cm, rộng 1,07m cao 1,32m giá 1.600.000đồng; 01 tủ đứng 2 cánh gỗ gõ kích thước: ngang 2,05m, cao 1,9m, rộng 0,5m giá 1.500.000đồng; 01 bộ ván ngựa 03 tấm gỗ gõ kích thước: dài 1,6m rộng 2,25m giá 10.000.000đồng; 01 bàn chữ U gỗ gõ kích thước: ngang 0,7m dài 1,4m giá 800.000đồng; 01 bộ bàn Salon gỗ gõ xong và 03 ghế giá 1.000.000đ; 01 tủ phê gỗ gõ kích thước: dài 1,4m rộng 0,6m trị giá 1.000.000đồng.
Giao quyền sử dụng diện tích đất ở đo đạc hiện trang 200m² và diện tích đất trồng cây lâu năm 195,8m² cho vợ chồng ông Đỗ Ngọc M và bà Huỳnh Thị Kim H1; Vợ chồng ông Đỗ Ngọc M và bà Huỳnh Thị Kim H1 có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Có trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 09/01/2025 kèm theo.
- Giao cho vợ chồng ông Đỗ Ngọc M và bà Huỳnh Thị Kim H1 tiếp tục quả lý sử dụng các loại tài sản sau: Mái che khung sắt tiền chế diện tích 22,23m² trị giá 410.000đ; Nhà vệ sinh diện tích 6,3m² trị giá 4.347.000đ; Tường rào xây gạch trên có khung sắt dài 10m trị giá 2.496.000đ; Cửa cổng 02 cánh diện tích 2m² trị giá 1.240.000đ; 01 cây me trên đất trị giá 400.000đồng; 01 cây phát tài trị giá 48.000đ; 04 cây mãng cầu nhỏ trị giá 191.600.000đ; 03 cây bưởi trị giá 2.130.000đ; 01 cây nhãn trị giá 129.000đ không có trong di chúc ngày 06/6/2010.
Về án phí, lệ phí Tòa án: Áp dụng các Điều 147, 157, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Về án phí: Ông Đỗ Ngọc M phải chịu 38.844.600đồng (ba mươi tám triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
* Về lệ phí:
- Ông Đỗ Ngọc M phải chịu 6.210.000đồng lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất. Ông Đỗ Ngọc M đã nộp đủ tạm ứng lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
- Ông Đỗ Văn T, Đỗ Văn T2, bà Võ Thị Hồng Y, Đỗ Thị L1, Đỗ Ngọc C, Đỗ Thị Kim L, Đỗ Minh H4, Đỗ Ngọc H3, Đỗ Ngọc T3, Đỗ Văn T4, Đỗ Thị Trúc U không phải chịu án phí, lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/6/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết tại địa phương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ung Thanh Quang |
Bản án số 64/2025/DS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 64/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
