Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 64/2025/DS-ST

Ngày: 04-4-2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

(ranh đất)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Như
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Hồng Thắm
  • Ông Nguyễn Văn Minh
  • Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 3 và 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 837/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất (ranh đất)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Ngô Quang L, sinh năm 1955. địa chỉ liên lạc: 605, N, Phường G, Quận E, TP ..
  • - Bị đơn: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1948; địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Ông Lương Quý T, sinh năm 1965; địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  • Bà Hoàng Thị Ngọc C, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Ông L có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 31/10/2023, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 17/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Ngô Quang L trình bày:

Nguồn gốc của hai thửa đất số 322, 323 cùng tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại địa chỉ xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An là của ông nhận chuyển nhượng (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ) từ ông Lương Quí T1 ngày 27/8/2002. Ngày 25/8/2022, ông đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành 903615, số vào sổ cấp GCN: CS13021, diện tích 92,7 m² cho thửa 323 và số phát hành 903616 số vào sổ cấp GCN: CS1B022, diện tích 183,5 m² cho thửa 322 theo bản án số 148/2019/DS-ST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Tổng diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tương ứng với các thửa đất số 322, 323 cùng tờ bản đồ số 30 nêu trên là 276.2 m². Trong đó, bề ngang của cả hai thửa đất là 5m từ đầu ranh đất cho đến cuối ranh đất. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất thì bà Lê Thị Đ, là người có quyền sử dụng đất liền kề là các thửa 128, 117 tờ bản đồ số 3 đã lấn chiếm quyền sử dụng đất các thửa đất số 322, 323 của ông. Cụ thể, bề ngang bị lấn chiếm là 0,8 m và chiều dài là 55m. Như vậy, tổng diện tích đất bà Lê Thị Đ lấn chiếm là 44 m².

Do đó, ông khởi kiện, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xem xét yêu cầu khởi kiện của ông như sau: Buộc bà Lê Thị Đ phải bàn giao lại 44m² đất đã lấn chiếm, trong đó, thửa đất số 322 là 20 m² và thửa 323 là 24 m², cả hai thửa đất này cùng tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại địa chỉ xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Đồng thời buộc bà Lê Thị Đ phải tháo dỡ các công trình có trên đất lấn chiếm và khôi phục lại hiện trạng đất, ước tính giá trị quyền sử dụng đất mà bà Lê Thị Đ đã lấn chiếm là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).

Ngày 17/02/2025, ông L có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Đề nghị Tòa án công nhận phần đất thuộc khu D diện tích 5,5m² và khu F, diện tích 14,8m² thuộc các thửa 128, 117 theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 400-2024 do bà Lê Thị Đ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của ông. Đối với phần đất tại các khu H, J ông xác định không tranh chấp với các hộ dân khác, ông thống nhất với ranh bản đồ địa chính tại các khu H, J. Lý do yêu cầu: Việc bà Đ lấn chiếm làm cản trở quyền của chủ sử dụng đất là ông, do đó ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

- Bị đơn bà Lê Thị Đ chỉ có mặt khi Tòa án đo đạc, xác định ranh, ngoài ra bà Đ vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn xác định rút lại yêu cầu khởi kiện đối với bà Đ đối với phần đất thuộc khu D diện tích 5,5m² và khu F, diện tích 14,8m² thuộc các thửa 128, 117, đề nghị Tòa án xác định ranh giới giữa phần đất của ông và bà Đ là đường kẻ màu đỏ (ranh do bị đơn xác định trùng với ranh bản đồ địa chính) theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 400-2024, do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 06/9/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An duyệt ngày 10/9/2024. Đối với phần đất tại Khu H, J thuộc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Kim D và ông Trần Văn H thì ông L không có tranh chấp; đối với ranh đất phía tây giáp các thửa 127, 118 thì ông L xác định đã có mốc giới, ông không tranh chấp phần đất giáp các thửa đất trên.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An:

Ông L trình bày nguồn gốc thửa đất số 322, 323 tờ bản đồ số 30 là do ông nhận chuyển nhượng từ ông Lương Quý T. Sau đó, ông L và ông T phát sinh tranh chấp từ hợp đồng chuyển nhượng và ông L được UBND huyện Đ cấp giấy CNQSDĐ ngày từ bản án số 148/2019/DSST ngày 24/10/2019 nhưng hồ sơ không thể hiện trình tự thủ tục ông L được cấp giấy chứng nhận đối với hai thửa đất nêu trên. Căn cứ mảnh trích đo địa chính ngày 10/9/2024, việc đương sự xác định tranh đất giữa ông L, bà Đ mà không xác định ranh của tứ cận tiếp giáp các thửa đất liền kề, ý kiến của các chủ đất liền kề như thế nào đối với việc xác định ranh đất sử dụng thực tế. Tại phiên tòa ngày 28/3/2025, ông L trình bày khi giao nhận đất từ việc thi hành bản án có đo đạc, cắm mốc giữa các thửa đất liền kề trong đó có thửa đất 128, 117 của bà Đ, hiện tại các thửa đất vẫn còn trụ ranh, cần thu thập hồ sơ bàn giao đất khi thi hành bản án trên. Mặc khác, ông Lương Quý T chưa có lời khai về việc có xác định ranh mốc với ông L hay chưa, cần xác minh làm rõ. Từ những phân tích trên, chưa đủ cơ sở đề xuất quan điểm giải quyết, đề nghị tạm dừng phiên tòa xác minh làm rõ như đã phân tích như trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp: Ông Ngô Quang L khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc 117, 128, tờ bản đồ số 30 đất tọa lạc tại Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa và quan hệ pháp luật tố tụng là “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)”.

[1.2] Các đương sự vắng mặt đều đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án giải quyết vắng mặt nên căn cứ các Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Đ và ông Ngô Quang L được cấp là dựa trên giao dịch dân sự nên Tòa án không đưa cơ quan cấp giấy vào tham gia tố tụng trong vụ án là phù hợp với quy định tại điểm 2. Mục II của Công văn số 64/TANDTC-PCngày 03 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân tối cao.

[2] Về nội dung: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại phần đất thuộc khu D diện tích 5,5m² và khu F, diện tích 14,8m² thuộc các thửa 128, 117 theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 400-2024, do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 06/9/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An duyệt ngày 10/9/2024. Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định rút lại yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Lê Thị Đ tại phần đất thuộc khu D diện tích 5,5m² và khu F, diện tích 14,8m² thuộc các thửa 128, 117 của bà Đ. Đề nghị Tòa án xác định ranh giới giữa phần đất của nguyên đơn và bà Đ là đường kẻ màu đỏ (trùng với ranh bản đồ địa chính) theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 400-2024, do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 06/9/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An duyệt ngày 10/9/2024.

[2.1] Xét việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với phần đất tại khu D diện tích 5,5m² và khu F, diện tích 14,8m² thuộc các thửa 128, 117 theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 400-2024, do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 06/9/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An duyệt ngày 10/9/2024 là hoàn toàn tự nguyện nên được HĐXX chấp nhận theo quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Đối với yêu cầu xác định giới giữa phần đất của nguyên đơn với bà Đ là đường kẻ màu đỏ (trùng với ranh bản đồ địa chính) theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 400-2024, do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 06/9/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An duyệt ngày 10/9/2024, yêu cầu này nguyên đơn đề cập tại phiên tòa. Căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “1. Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu” việc bổ sung yêu cầu khởi kiện này của ông L không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên HĐXX chấp nhận xem xét tại phiên tòa.

[2.3.] Xét yêu cầu xác định ranh đất giữa phần đất thuộc thửa 323, 322, tờ bản đồ số 30 của ông Ngô Quang L và bà thửa 128, 117 của bà Đ là đường kẻ màu đỏ (trùng với ranh bản đồ địa chính) theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 400-2024, do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 06/9/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An duyệt ngày 10/9/2024.

[2.3.1] Xét về nguồn gốc đất và quá trình kê khai đăng ký: Căn cứ công văn số 4039/STNMT.VPĐKĐĐ ngày 04/6/2024 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L, kèm theo hồ sơ cấp giấy, thể hiện:

1. Thửa đất số 322, 323, tờ bản đồ số 30, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Thửa đất số 322 có diện tích 183,5m², loại đất CLN; Thửa đất số 323, có diện tích 92,7m², loại đất ONT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 957939, DE 957938, DG 584552, DG 584551 (số vào số cấp GCN: CS 12879, CS 12880) cấp cùng ngày 04/07/2022, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Ngọc C1 cùng sử dụng đất với ông Ngô Quang L.

Ngày 06/07/2022, ông Nguyễn Ngọc C1 cùng vợ là bà Nguyễn Thị Xuân N lập Hợp đồng chuyển nhượng 50% giá trị phần quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Ngô Quang L được Văn phòng C2, quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Ông Ngô Quang L nộp hồ sơ đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 903616, DH 903615 (số vào sổ cấp GCN: CS 13022, CS 13021) cấp cùng ngày 25/08/2022, đối với các thửa đất nêu trên.

2. Thửa đất số 117, tờ bản đồ số 30, diện tích 429m², loại đất CLN; Thửa đất số 128, tờ bản đồ số 30, diện tích 256m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AA 137961 (số vào sổ cấp GCN: 2227 QSDĐ/0717-LA) ngày cấp 18/08/2004, do UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Lê Thị Đ.

Ngày 02/11/2007, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ ký cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng quyền sử dụng một phần thửa đất số 117, diện tích 254m², tờ bản đồ số 30 cho bà Võ Thị Bích H1 trên trang 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AA 137961 (số vào sổ cấp GCN: 2227 QSDĐ/0717-LA), theo Hợp đồng số 840/CN.UBND của UBND xã Đ. Diện tích còn lại thửa đất số 117 là 175m².

Ngày 03/04/2012, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đ (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện Đ) ký cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng quyền sử dụng một phần thửa đất số 117, diện tích 50m² tờ bản đồ số 30 cho bà Hoàng Thị Ngọc C trên trang 04 Giấy chứng nhận QSDĐ, theo Hợp đồng số 210 của Văn phòng C3 ngày 07/01/2014. Diện tích còn lại thửa đất số 117 là 125m².

Ngày 21/08/2018, bà Lê Thị Đ lập Hợp đồng tặng cho quyên sử dụng một phần thửa đất số 117 (có số thửa mới là 307), tờ bản đô sô 30, diện tích 52m² loại đất CLN; một phần thửa đất số 128 (có số thửa mới là 308), tờ bản đồ số 30, diện tích 123m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cho bà Hoàng Thị Ngọc C được Văn phòng C3, quyền số 08TP/CC-SCC/HĐGD. Bà Hoàng Thị Ngọc C nộp hô sơ đăng ký biên động do nhận tặng cho quyền sử dụng đất và được Sở Tài nguyên và Môi trường ký câp Giây chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CP 248180, C4 (sô vào số cấp GCN: CS 05664, CS 05664) cấp cùng ngày 19/09/2018, đối với các thửa đất số 307, tờ bản đồ số 30, diện tích 52m², loại đất CLN; thửa đất số 308, tờ bản đồ số 30, diện tích 123m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Diện tích còn lại thửa đất số 117 là 73m²; thửa đất số 128 là 133m².

3. Thửa đất số 265, tờ bản đồ số 30, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An Thửa đất số 265, tờ bản đồ số 30, diện tích 50m², loại đất CLN, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liên với đất số phát hành C5 (số vào sổ cấp GCN: CS 06062) ngày cấp 02/11/2018, do Sở T ký cấp cho ông Huỳnh Kiêm . Ngày 11/06/2020, ông Huỳnh K cùng vợ là bà Lê Thị T2 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Kim D được Văn phòng C6, quyển số 06 TP/CC-SCC/HĐGD. Bà Nguyên Thị Kim D1 nộp hô sơ đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CX 221167 (số vào sổ cấp GCN: CS 09385) ngày cấp 13/7/2020, đôi với thửa đât nêu trên (Đính kèm hồ sơ).

4. Thửa đất số 190, tờ bản đồ số 30, đất tọa lạc tại xã Đ, Thửa đất số 190, tờ bản đồ số 30, diện tích 254m², loại đất LUA, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AL 453518 (số vào sổ cấp GCN: H 04490) ngày cấp 03/12/2007, do UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Võ Thị Bích H1. Ngày 30/12/2010, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đ (nay là Chi nhánh Văn phòng C3 tại huyện Đ) ký cập nhật chỉnh lý biến động chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất LUA thành loại đất ONT, diện tích 254m², tại thửa đất số 190, tờ bản đồ số 30, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Quyết định số 16119/QĐ-UBND ngày 09/12/2010 của UBND huyện Đ, tỉnh Long An. Ngày 17/08/2018, bà Võ Thị Bích H1 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông T3 Văn Hóa được Văn phòng C3, quyến số 08TP/CC-SCC/HĐGD. Ông Trần Văn H nộp hồ sơ đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liên với đất số phát hành C7 (số vào sổ cấp GCN: CS 05107) ngày cấp 24/09/2018, đối với thửa đất số 190, tờ bản đồ số 30, diện tích 254m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (Đính kèm hồ sơ).

[2.3.2] Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 12/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C3, tỉnh Long An (đính kèm hồ sơ cấp giấy) thì phần đất thuộc thửa 323, 322 của ông L có chiều ngang giáp đường tỉnh 825 là 5m, chiều ngang đầu còn lại là 5m. Quá trình đo đạc phần đất tranh chấp, bị đơn có mặt và xác định ranh, ranh do bị đơn xác định trùng với ranh bản đồ địa chính được thể hiện tại Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 400-2024, do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 06/9/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An duyệt ngày 10/9/2024. Theo đó, thửa 322, 323 của ông L có chiều ngang giáp đường tỉnh 825 là 5m, chiều ngang đầu còn lại là 5m, ranh bản đồ cấp giấy là ranh màu đỏ. Như vậy, việc nguyên đơn đề nghị Tòa án xác định ranh giữa thửa 323, 322 của nguyên đơn và ranh giới thửa 128, 117 của bà Lê Thị Đ là đường kẻ màu đỏ (ranh do bị đơn xác định và trùng với ranh cấp giấy của thửa 323, 322) là có cơ sở và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý chí của bị đơn nên được HĐXX ghi nhận.

[2.4] Về hậu quả của việc đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại mục [2.1] nguyên đơn được quyền khởi kiện lại theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2.5] Đối với phần đất tại các Khu H, J thuộc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Kim D và ông Trần Văn H thì ông L xác định không có tranh chấp; đối với ranh đất phía tây giáp các thửa 127, 118 thì ông L xác định đã có móc giới, ông không tranh chấp phần đất giáp các thửa đất trên. Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, trong vụ án này ông L xác định không có yêu cầu, không tranh chấp nên HĐXX không xem xét giải quyết là phù hợp quy định pháp luật.

[3] Việc Kiểm sát viên đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ là không cần thiết nên HĐXX không chấp nhận.

[4] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá: Ông L chịu tổng cộng là 30.000.000 đồng (đã nộp và chi xong).

[6] Về án phí: Ông L và bà Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 165, 217, 218, 227, 228, 235, 244, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 100, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Quang L về việc tranh chấp ranh đất với bà Lê Thị Đ: Ghi nhận việc xác định ranh đất giữa các thửa đất 323, 322 của ông L và các thửa đất 128, 117 cùng tờ bản đồ số 30 của bà Đ là đường kẻ màu đỏ (ranh bị đơn xác định trùng với ranh cấp giấy thửa 322, 323) theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính 400-2024 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 06/9/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C3 duyệt ngày 10/9/2024.
  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Quang L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)” với bà Lê Thị Đ đối với phần đất khu D diện tích 5,5m² và khu F, diện tích 14,8m² thuộc các thửa 128, 117 theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính 400-2024 do Công ty TNHH Đ1 đo vẽ ngày 06/9/2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C3 duyệt ngày 10/9/2024 đất tọa lạc tại ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  3. Về hậu quả của việc đình chỉ yêu cầu khởi kiện: Ông Ngô Quang L được quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  4. Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Ngô Quang L chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng là 30.000.000 đồng (đã nộp và chi xong).
  5. Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn được miễn án phí theo quy định.
  6. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lương Thị Hồng Thắm – Nguyễn Văn Minh

Lê Thị Ngọc Như

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Ngọc Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/DS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)

  • Số bản án: 64/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Quang Lan "Tranh chấp QSDĐ" Lê Thị Điệp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger