|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Chung
Ông Nguyễn Đắc Hưng
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2024/TLST - HNGĐ ngày 12/3/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QĐ-HPT ngày 14/8/2024 của TAND thị xã Nghi Sơn giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T - Sinh năm 1997 (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn N - Sinh năm 1994 (vắng mặt không rõ lý do)
Cùng HKTT: Thôn B, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Hoàng Văn N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa ngày 19/9/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 6/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ngoài ra, anh N tính tình nóng nảy, anh N khi dạy dỗ con hay đánh con, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được. Từ năm 2021 đến nay anh chị ly thân, chị cùng các con về nhà mẹ đẻ chị ở xã H để ở. Có nhiều lần chị đã gọi điện cho anh N về chơi với con nhưng anh N đều kêu bận, không đến. Mặc dù chị đã cho anh N nhiều cơ hội nhưng anh N vẫn thờ ơ, không hỏi han quan tâm gì đến chị và các con. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn N.
Về con chung: Chị và anh N có 03 con chung là: Hoàng Văn B, sinh ngày 15/12/2017; Hoàng Thị N1, sinh ngày 15/3/2020; Hoàng Văn Đ, sinh ngày 18/12/2021. Hiện nay cả ba cháu đều đang ở cùng với chị T, phát triển tốt. Chị T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả ba cháu và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Chị T làm công nhân công ty TNHH G, thu nhập ổn định mỗi tháng từ 6.500.000đ đến 7.000.000đ.
Về tài sản và công nợ: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng cho anh Hoàng Văn N, nhưng anh N không đến toà án làm việc, không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, không có bản tự khai hay văn bản trình bày ý kiến.
Kết quả xác minh tại địa phương:
Chị Lê Thị T và anh Hoàng Văn N kết hôn ngày 19/9/2017, sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại nhà chồng tại thôn B, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh chị đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Chị T cùng 03 con đã về nhà ngoại sinh sống.
Hiện tại anh N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng hiện đang vắng mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì, không rõ thời gian trở về địa phương. Trên hệ thông cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không thể hiện công dân đang tạm trú ở bất kỳ nơi nào.
Ông Hoàng Văn T1 là bố đẻ của anh N cho biết: Theo ông, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng anh N chị T là do khoảng năm 2020, tình hình dịch bệnh covid 19 kéo dài dẫn đến kinh tế gia đình sa sút, vợ chồng anh N có mâu thuẫn cãi vã. Đã được hai bên gia đình khuyên giải dàn xếp nhưng không được. Nhiều lần Tòa án gửi giấy tờ về việc chị T xin ly hôn, ông đã nhận và thông báo cho anh N biết nhưng anh N bận công việc nên không về, anh N nói với ông rằng: Nếu chị T xin ly hôn thì tự giải quyết, anh N không đồng ý vì anh không có lỗi gì. Về con chung của anh chị, hiện tại các cháu đang ở với chị T, nếu chị T xét thấy nuôi dạy con tốt thì để chị T nuôi, còn nếu chị T khó khăn không nuôi được thì mang về giao cho gia đình bên nội sẽ nuôi các cháu.
Tại phiên tòa, chị T khẳng định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N. Về con chung: Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đại diện VKS phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các Điều 51,56,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn anh N; về con chung: Giao cả ba con chung cho chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét; về tài sản và công nợ: anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tại phiên toà, anh N vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do, vì vậy, HĐXX xét xử vắng mặt anh N theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét yêu cầu của chị Lê Thị T:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị T và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thị xã N, Thanh Hóa vào ngày 19/9/2017 như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Thực tế anh chị không còn chung sống với nhau từ năm 2021 đến nay, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Toà án đã nhiều lần mời anh N đến toà án để tham gia hoà giải nhưng anh N không đến, chứng tỏ anh N không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với chị T. Vậy hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hôn nhân giữa chị T và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy việc chị T yêu cầu ly hôn anh N là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51,56 của Luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Anh chị có 03 con chung là: Hoàng Văn B, sinh ngày 15/12/2017; Hoàng Thị N1, sinh ngày 15/3/2020; Hoàng Văn Đ, sinh ngày 18/12/2021. Cả ba cháu hiện đang ở cùng chị T, phát triển tốt. Chị T là lao động tự do, sức khoẻ tốt, chị làm công nhân công ty TNHH G, thu nhập ổn định mỗi tháng từ 6.500.000đ đến 7.000.000đ, chị khẳng định có đủ điều kiện nuôi con tốt, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Quá trình giải quyết vụ án, anh N không có văn bản trình bày nguyện vọng về nuôi con.Vì vậy, giao cả ba cháu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[4] Về tài sản và vay nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T.
- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn N.
- Về con chung: Anh chị có 03 con chung là: Hoàng Văn B, sinh ngày 15/12/2017; Hoàng Thị N1, sinh ngày 15/3/2020; Hoàng Văn Đ, sinh ngày 18/12/2021. Giao cả ba cháu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh N được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
- Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0007087 ngày 12/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
5
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn anh N
