Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HSPT

Ngày: 23/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thái Hùng
Ông Phạm Trung Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17, 23/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 52/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1 do có kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị cáo bị kháng nghị:

  1. Vũ Quang T, sinh năm 1995 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: tổ G, khu phố P, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vũ Văn T2 và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Vũ Thị Ngọc Á và 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

  2. Nguyễn Thành T1, sinh năm 1991 tại Lâm Đồng; Thường trú: khu phố S, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Quang T3 và bà Phạm Thị Thu T4; có vợ là Hoàng Thị A và 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Vụ thứ 01: Vũ Quang T và Nguyễn Thành T1 là công nhân làm việc tại Chi nhánh Công ty V – Nhà máy G thuộc Khu công nghiệp M, thị xã P, tỉnh BR-VT, T và T5 được phân công điều khiển xe nâng vận chuyển hàng hoá là sản phẩm gạch men và vật tư khác lên các xe ô tô tải chở hàng tại nhà kho số 08. Phạm Văn Á1 là bảo vệ của Công ty TNHH D (địa chỉ: Khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh BR-VT) được phân công làm việc tại Chi nhánh Công ty V – Nhà máy G, phụ trách việc kiểm soát các xe giao, nhận hàng khi ra khỏi Cổng số 1. Lê Hồng T6 là tài xế chạy xe ô tô chở hàng cho Công ty TNHH Một thành viên H2 (địa chỉ: số F, Đường số B, khu phố B, phường A, quận B, Tp .) thường xuyên chở hàng là thùng giấy carton cho nhà máy G. Trong quá trình làm việc tại đây, T và T1 phát hiện quy trình quản lý kho gạch của nhà máy có nhiều sơ hở nên nảy đã sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó, T gặp và nói với Ál “khi nào xe có bỏ hàng đi ra cổng, anh kiểm xe loa qua, tạo điều kiện giúp em rồi em gửi tiền cà phê”. Á1 biết T lấy trộm tài sản của công ty đưa ra ngoài nhưng vì T hứa cho tiền nên Á1 đồng ý. Ngày 06/6/2023, T1 nói với T ngày 07/6/2023 có xe ô tô tải chở hàng đến giao thùng carton tại nhà kho số 08 nên sẽ liên hệ với tài xế để đưa các kiện gạch men ra ngoài, còn T thì tìm nơi tiêu thụ. Đến chiều ngày 06/6/2023, sau lúc đi làm về T đến nhà của Trần Thị Thu H (chị dâu của T) nhờ H ngày mai sau khi T lấy trộm được hàng của công ty M ra ngoài thì H đi bán giúp T, H đồng ý. Đến khoảng 12 giờ ngày 07/6/2023, Lê Hồng T6 điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-047.09 đến nhà kho số 08 để giao thùng giấy carton cho nhà máy G. Khi T6 đến thì T và T1 đều đang có mặt tại nhà kho, lúc này T nói với T6 có mấy kiện hàng, chở ra giúp rồi trả tiền công 1.200.000 đồng cho T6, T6 biết đây là hàng do T lấy trộm của công ty nhưng vì T trả công 1.200.000 đồng nên T6 vẫn đồng ý. Sau đó, T và T1 điều khiển xe nâng lén lút di chuyển 06 kiện gạch men Viglacera, mỗi kiện gạch chứa 28 thùng carton, mỗi thùng có 03 viên, tổng cộng 504 viên gạch loại vân đá kích thước 80cm x 80cm lên thùng xe của T6. Khi nâng hàng xong thì T gọi điện thoại nói với Á1 cho xe ô tô tải của T6 được ra khỏi cổng rồi điện thoại thông báo cho H đến chờ xe của T6 tại cổng nhà máy, đồng thời T gửi số điện thoại của T6 cho H và đưa số điện thoại của H cho T6. Khi T6 chở 06 kiện hàng gạch men ra đến cổng nhà máy thì Á1 đang kiểm soát tại cổng nhà máy, Á1 không kiểm tra thùng xe mà chỉ giả vờ đi ra sau phía thùng xe rồi quay vào cho xe ra ngoài. Khi đi ra ngoài nhà máy, T6 và H liên lạc với nhau qua điện thoại và hẹn gặp nhau tại cổng Khu công nghiệp M, thị xã P, tỉnh BR-VT. Khi gặp nhau, H điều khiển xe máy đi trước dẫn đường cho T6 đi đến cửa hàng G1 tại Ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì dừng lại. H đi vào cửa hàng G1 gặp chủ cửa hàng là Lê Thị H1 (sinh năm 1984; Nơi cư trú: Ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai). H nói với H1 hiện nay H đang làm việc tại Công ty V và đang có 06 kiện gạch men đang được giảm giá, muốn bán rẻ cho H1. Lúc này, H1 đi đến thùng xe kiểm tra loại gạch men mà H đưa đến và thoả thuận mua số gạch này với giá 135.000 đồng/m2, tương đương với tổng số tiền 43.545.000 đồng. Thoả thuận xong, H gọi điện thoại hỏi T có đồng ý bán 06 kiện gạch trên với giá 43.545.000 đồng thì T đồng ý. Sau đó, T6 điều khiển xe vào nhà kho của H1, H1 dùng xe nâng điều khiển 06 kiện gạch xuống khỏi thùng xe rồi chuyển vào tài khoản ngân hàng của H số tiền 43.545.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, H gọi điện thoại cho T để xử lý số tiền bán được, sau đó H chuyển cho T6 số tiền 1.500.000 đồng, chuyển cho T số tiền 33.900.000 đồng, H giữ lại số tiền 8.145.000 đồng, trong đó có số tiền 7.645.000 đồng là số tiền mà T nợ H trước đó, H được T cho 500.000 đồng. Số tiền 33.900.000 đồng, T chia cho T1 17.500.000 đồng, chia cho Á1 2.000.000 đồng. Số tiền còn lại, T giữ để tiêu xài cá nhân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 171/KL-HĐ.ĐGTS ngày 02/08/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thị xã P, kết luận: 06 (sáu) kiện gạch men V1, mỗi kiện gạch chứa 28 thùng carton, mỗi thùng có 03 viên gạch loại vân đá, kích thước 80cm x 80cm, trị giá 59.733.333 đồng (Năm mươi chín triệu, bảy trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

*Vụ thứ 02: Khoảng 22 giờ 00 ngày 19/07/2023, Lê Hồng T6 điều khiển xe ô tô tải biển số 51-047.09 đến giao thùng carton tại nhà kho số 08 thuộc nhà máy G thì phát hiện khu vực để vật tư là các loại màng PE, màng co trong nhà kho không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này, Tó quan sát xung quanh thấy không có ai nên đã lén lút lấy trộm 10 cuộn màng PE chất lên thùng xe rồi lấy thùng giấy carton che lại. Sau đó, T6 điều khiển xe ô tô tải đi ra khỏi cổng nhà máy rồi đi đến cửa hàng phế liệu Tùng Trâm của chị Thiều Thị N, sinh năm 1992 ở số D đường Đ, ấp N, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh bán được 5.300.000 đồng. Số tiền trên T6 tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 182/KL-HĐ.ĐGTS ngày 06/09/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thị xã P, kết luận: 10 cuộn màng PE, hình trụ tròn, bên trong có lõi giấy, có kích thước dài 120cm, đường kính 20cm, mỗi cuộn có trọng lượng 30kg trị giá 13.500.000 đồng (mười ba triệu, năm trăm nghìn đồng).

* Vụ thứ 03: Vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 24/7/2023, Lê Hồng T6 tiếp tục điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-047.09 đến giao thùng carton tại Nhà kho số 08 thuộc nhà máy G, sau khi giao hàng xong, phát hiện trong nhà kho không có người trông coi nên T6 đã lén lút lấy trộm 10 cuộn màng PE và 06 cuộn màng co cất giấu trong thùng và cabin xe. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, khi T6 đi ra đến cổng nhà máy thì bị bảo vệ công ty cùng Công an Đồn Công an Khu công nghiệp T7 phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 182/KL-HĐ.ĐGTS ngày 06/09/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thị xã P, kết luận:

  • 10 cuộn màng PE trị giá 13.500.000 đồng (mười ba triệu, năm trăm nghìn đồng);
  • 06 cuộn màng co, hình trụ tròn, bên trong có lõi giấy, kích thước dài 50cm, đường kính 10cm, mỗi cuộn có trọng lượng 03kg, trị giá 660.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

Quá trình làm việc với Cơ quan CSĐT Công an thị xã P, Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1, Trần Thị Thu H, Phạm Văn Á1 khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định: Tuyên bố các bị cáo Lê Hồng T6, Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1, Trần Thị Thu H, Phạm Văn Á1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Quang T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án 31/01/2024.

Giao bị cáo Vũ Quang T cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 31/01/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Thành T1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Lê Hồng T6, Trần Thị Thu H, Phạm Văn Á1, án phí sơ thẩm, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Ngày 15/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ ban hành Quyết định kháng nghị số 01/KN-VKS-PM kháng nghị bản án sơ thẩm trên theo hướng không cho bị cáo Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1 hưởng án treo.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giữ nguyên nội dung kháng nghị như Quyết định kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã thể hiện trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà sơ thẩm.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

Về tố tụng: Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ kháng nghị trong thời hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1 phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày xét xử sơ thẩm, xử phạt bị cáo T1 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày xét xử sơ thẩm là chưa phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, bởi vì các bị cáo là người khởi xướng việc lấy tài sản của công ty nơi các bị cáo làm việc, bàn bạc và rủ rê các bị cáo khác cùng tham gia trộm cắp tài sản nên đề nghị xét xử bị cáo nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tại địa phương. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị và sửa bản án sơ thẩm theo hướng không cho bị cáo Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1 được hưởng án treo.

6. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên, cho các bị cáo hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc gia đình, con cái, bị cáo T có điều kiện chữa trị thương tích do tai nạn lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 12h00' ngày 07/6/2023, tại Chi nhánh Công ty V – Nhà máy G thuộc Khu công nghiệp M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lê Hồng T6, Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1, Trần Thị Thu H, Phạm Văn Á1 đã có hành vi lén lút lấy trộm 06 kiện gạch men Viglacera trị giá 59.733.333 đồng của Chi nhánh Công ty V, bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Ngoài ra, bị cáo Lê Hồng T6 còn độc lập thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác, trị giá 13.500.000 đồng và 73.893.333 đồng của Chi nhánh Công ty V trong các ngày 19 và 25/7/2023.

Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ:

Các bị cáo Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1 là công nhân làm trong công ty, lợi dụng sơ hở trong khâu quản lý, đã cấu kết với nhân viên bảo vệ, lái xe và người ngoài lén lút chiếm đoạt tài sản của công ty, bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn xảy ra vụ án, gây tâm lý bất an, hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân và các doanh nghiệp trên địa bàn. Hai bị cáo đều tham gia một vụ trộm cắp gạch men trị giá 59.733.333 đồng của Chi nhánh Công ty V, với vai trò người thực hành, khởi xướng trong vụ án đồng phạm giản đơn. Trong quan hệ với các đồng phạm khác trong vụ án, các bị cáo đều không có mối quan hệ chỉ huy, lệ thuộc mà chỉ là quan hệ bình đẳng, cùng nhau thực hiện tội phạm và phân chia quyền lợi bất hợp pháp chiếm đoạt được của bị hại. Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo này, cùng với 2 bị cáo đồng phạm khác trong vụ án là Trần Thị Thu H, Phạm Văn Á1. Riêng bị cáo Lê Hồng T6 có nhân thân xấu, phạm tội nhiều lần nên Toà án cấp sơ thẩm xử phạt tù, và không cho hưởng án treo. Quá trình quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục toàn bộ hậu quả, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Quang T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, bị cáo Nguyễn Thành T1 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, nhưng cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù hợp theo luật định, là đã có sự phân hoá tội phạm, đánh giá đúng vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của từng bị cáo khi quyết định loại, mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Việc phân hoá tội phạm, quyết định hình phạt của Toà án cấp sơ thẩm đã đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ kháng nghị, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không áp dụng án treo đối với các bị cáo Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1 bởi các bị cáo là người chủ mưu cầm đầu, không có căn cứ để xem xét chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[4]. Về án phí: Không.

[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về hình phạt đối với bị cáo.

    Tuyên bố: Bị cáo Vũ Quang T, Nguyễn Thành T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Quang T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/01/2024).

    Giao bị cáo Vũ Quang T cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/01/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Thành T1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Không.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (23/5/2024).

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ;
  • - Công an thị xã Phú Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ;
  • - UBND phường Tân Phước;
  • - UBND Hắc Dịch;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Minh Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HSPT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 64/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Quang T và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger