Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 64/2024/HS-ST;

Ngày 22 tháng 5 năm 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Khang; Bà Lương Thị Nga.

-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Luyên - Thư ký Tòa án.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Việt - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 19/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 29/7/1984 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và nơi ở trước khi bị bắt: Tổ 11A đường H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Mạnh Đ và bà Lê Thị C1; Vợ Nguyễn Thị H (đã ly hôn); Con: 01 con sinh năm 2007;

Tiền án: 02 tiền án: Tại Bản án số 208/2016/HSST ngày 16/5/2016 của TAND quận Hoàng Mai xử phạt Nguyễn Mạnh C 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc. (Chưa được xoá án tích do trong thời hạn xem xét xoá án tích bị cáo tiếp tục phạm tội); Tại Bản án số 134/2018/HSST ngày 17/5/2018 của TAND quận Hoàng Mai xử phạt Nguyễn Mạnh C 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. (Chưa được xoá án tích).

Tiền sự: Không

Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 07/01/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Số giam: 910E2-B5). Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lương Minh T, sinh ngày 10/10/1987 tại Thái Bình; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và nơi ở trước khi bị bắt: P418, CT16, Khu Đô thị M, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lương Hồng P và bà Phạm Thị Minh T1 (tên gọi khác: Phạm Minh T1); có vợ là Đỗ Thị Tân T2 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012;Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang ngày 06/01/2024; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 07/01/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Số giam 914E2-B7). Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phạm Thị Minh T1 (tên gọi khác: Phạm Minh T1), sinh năm 1955; HKTT: Tổ I, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: P418, CT16, Khu Đô thị M, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ ngày 06/01/2024, Tổ công tác Công an xã A tiến hành tuần tra kiểm soát tại đoạn đường nội bộ trước sảnh A, chung cư G, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội, thì phát hiện nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong ngăn túi của nam thanh niên đang đeo chéo trước ngực có 01 gói quấn băng dính màu đen, kích thước (02 x 02)cm, mở gói bên trong quấn 01 lớp giấy bạc trong có: 01 túi nilon kích thước (1,7 x 02)cm trong chứa tinh thể màu trắng và 01 gói quấn băng dính màu đen kích thước (3,2 x 1,8) cm; mở gói bên trong quấn 01 lớp giấy màu trắng, bên trong chứa 01 túi nilon kích thước (03 x 03)cm bên trong chứa 02 viên nén hình lục giác, màu trắng, 06 cạnh kích thước mỗi cạnh 0,6cm, dày 0,3cm, có kí hiệu “VL” lồng vào nhau. Nam thanh niên khai tên là Lương Minh T (Sinh năm: 1987, HKTT: P418, CT16, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội) và khai nhận chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén là ma tuý T mua của Nguyễn Mạnh C (Sinh năm: 1984, HKTT: Tổ A, phường H, quận H, thành phố Hà Nội) với giá 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) để bán lại cho đối tượng tên H1 sử dụng số điện thoại 0876.504.xxx nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an xã A phát hiện, bắt giữ. Sau đó, Lực lượng Công an xã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đưa đối tượng T cùng tang vật về trụ sở Công an xã làm việc.

Sau đó, Công an xã A đã tiến hành mời Nguyễn Mạnh C đến trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an Nguyễn Mạnh C khai nhận toàn bộ hành vi đã bán 02 viên ma túy dạng kẹo và ma túy đá với tổng số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) cho T vào ngày 06/01/2024. C khai đã mua 10 viên ma tuý dạng kẹo với giá 250.000 đồng/01viên và 2.000.000 đồng ma tuý dạng đá, với tổng số tiền là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) từ bạn xã hội tên là T3 (không rõ lai lịch) vào khoảng tháng 12/2023 tại bến xe G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội. Sau khi mua được ma túy, C đem về sử dụng, số ma tuý còn lại chưa sử dụng C đã bán cho T ngày 06/01/2024 tại trước cửa nhà C ở số B, ngõ A, phố N, TDP C, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

* Vật chứng thu giữ.

  • - 01 (Một) túi nilon kích thước (1,7 x 02) cm trong chứa tinh thể màu trắng thu giữ của của Lương Minh T;
  • - 01 (Một) túi nilon kích thước (03 x 03 )cm bên trong chứa 02 viên nén hình lục giác, màu trắng, 06 cạnh kích thước mỗi cạnh 0,6cm, dày 0,3cm, có kí hiệu “VL” lồng vào nhau thu giữ của Lương Minh T;
  • - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu đen, Biển số: 17F1-8360, số máy C100 MSE1072764, số khung C100MS-1072764 thu giữ của của Lương Minh T;
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S20 màu xám, số IMEI: 352649111685051101 thu giữ của Lương Minh T;
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone X màu vàng, lắp sim số 0977.016.884 thu giữ của của Nguyễn Mạnh C;
  • - 01 (Một) túi vải màu xám, kích thước (20,5 x17,5 x 5) cm, có dây đeo bằng vải thu giữ của Lương Minh T.

* Tại Bản kết luận giám định số 481A/KL-KTHS ngày 14/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng: 0,283 gam.

02 viên nén hình lục giác màu trắng bên trong 01 túi nilông được cuốn 01 lớp giấy màu trắng,ngoài cùng cuốn băng dính màu đen đều là ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng: 0,859 gam.

Đối với đối tượng H1 hỏi mua ma túy của T: Quá trình điều tra xác định đối tượng H1 sử dụng số tài khoản 020079545555 ngân hàng S chuyển số tiền 2.100.000 đồng đến số tài khoản 0915.379.687 ngân hàng M của Lương Minh T. Quá trình điều tra xác định chủ tài khoản số [...] ngân hàng S là Nguyễn Thị Như Q - Sinh năm: 1979, Nơi cư trú: Căn hộ 2005A, HH2, KĐT A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. Tại cơ quan điều tra, chị Q khai vào ngày 06/01/2024,

có một người nhờ chị Q chuyển giúp số tiền 2.100.000 đồng vào số tài khoản 0915.379.687 tại ngân hàng M1 đứng tên “LUONG MINH TUAN”. Chị Q làm theo và nhận lại 2.100.000 tiền mặt. Vì việc chuyển tiền tài khoản trao đổi với tiền mặt xảy ra thường xuyên nên và chị Q không nhớ người nhờ chị chuyển tiền đến tài khoản đó là ai, và chuyển với mục đích gì nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý

Đối với thuê bao số 0876.504.238 mà đối tượng H1 sử dụng để liên lạc với Lương Minh T: Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao hiện đang đứng tên anh Đinh Văn C2 (Sinh năm: 1995, Nơi cư trú: A, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang). Trước đó, từ ngày 31/8/2022 đến ngày 06/01/2024 thuê bao trên đứng tên chị Nguyễn Hải H2 (Sinh năm: 1997, Nơi cư trú: thôn Đ, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, anh C2, chị H2 khai: Anh C2, chị H2 đều không đăng ký, sử dụng số thuê bao trên. Quá trình sử dụng CCCD, CMND, anh C2, chị H2 không cho ai mượn hay đứng tên đăng ký bất kỳ số thuê bao nào. Do đó, Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý đối với anh C2 và chị H2.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, Biển số: 17F1-8360, số khung 1072764, số máy 1072764, T điều khiển để đi mua bán ma túy ngày 06/01/2024: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu trên giấy đăng ký xe là bà: Phạm Thị Minh T1 (Phạm Minh T1) sinh năm: 1955, Nơi cư trú: phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Tại cơ quan điều tra, bà T1 khai là mẹ đẻ của Lương Minh T, chiếc xe trên là của bà T1 mua và sử dụng từ năm 1998 đến nay, ngày 06/01/2024, T có mượn chiếc xe trên của bà T1 và nói đi có việc. Bà T1 không biết việc T sử dụng xe để đi mua bán ma túy. Do đó, không có cơ sở để xem xét, xử lý đối với bà T1. Qua tra cứu chiếc xe gắn Biển số: 17F1-8360 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với việc sử dụng ma túy của Nguyễn Mạnh C, Lương Minh T. Quá trình điều tra C và T đều khai nhận có sử dụng ma túy cần sa vào ngày 05/01/2024. Kết quả xét nghiệm chất ma túy có trong nước tiểu của Nguyễn Mạnh C, Lương Minh T vào ngày 06/01/2024 đều có kết quả dương tính với chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Mạnh C, Lương Minh T đã phạm vào Khoản 1, Điều 23, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Ngày 03/4/2024, Công an huyện H ra quyết định xử phạt hành chính số 480/QĐ-XPHC xử phạt đối với Lương Minh T hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng); Ngày 03/4/2024, Công an huyện H ra quyết định xử phạt hành chính số 481/QĐ-XPHC

xử phạt đối với Nguyễn Mạnh C hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSHĐ ngày 15/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo:

  • - Nguyễn Mạnh C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  • - Lương Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm q Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm 06 tháng tù;

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lương Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Lương Minh T từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) túi nilon kích thước (1,7 x 02) cm trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (Một) túi nilon kích thước (03 x 03 )cm bên trong chứa 02 viên nén hình lục giác, màu trắng, 06 cạnh kích thước mỗi cạnh 0,6cm, dày 0,3cm, có kí hiệu “VL” lồng vào nhau; 01 (Một) túi vải màu xám, kích thước (20,5 x17,5 x 5) cm, có dây đeo bằng vải không còn giá trị sử dụng thu giữ của Lương Minh T;
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S20 màu xám, số IMEI: 352649111685051101 thu giữ của Lương Minh T; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone X màu vàng, lắp sim số 0977.016.884 thu giữ của của Nguyễn Mạnh C.
  • - Trả lại cho bà Phạm Thị Minh T1 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu đen, Biển số: 17F1-8360, số máy C100 MSE1072764, số khung C100MS -1072764 .

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

* Lời nói sau cùng, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, có cơ hội sớm tái hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo:

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thu thập được, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 06/01/2024, tại số B N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Mạnh C có hành vi bán trái phép: 01 túi nilông là ma tuý loại Methamphetamine có tổng khối lượng: 0,283 gam và 02 viên nén hình lục giác màu trắng là ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng: 0,859 gam cho Lương Minh T với giá 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Lương Minh T mang số ma túy trên đến khu vực sảnh A1, chung cư G, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội để bán cho đối tượng H1 với giá 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) thì bị Tổ công tác Công an xã A, huyện H phát hiện, bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt trong tình hình hiện nay, tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, ma tuý gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, làm huỷ hoại sức khoẻ, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác; hành vi của các bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện.

Bị cáo C và T cùng có hành vi mua mua bán trái phép ma tuý với cùng khối lượng 0,283 gam Methamphetamine và 0,859 gam ma tuý loại MDMA. Tuy nhiên, trước đó bị cáo C có 02 tiền án, chưa được xoá án tích nên VKSND huyện Hoài Đức truy tố bị cáo theo quy định tại điểm q Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo T theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Mạnh C có 02 tiền án:

Tại Bản án số 208/2016/HSST ngày 16/5/2016 của TAND quận Hoàng Mai xử phạt Nguyễn Mạnh C 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc, chưa được xoá án tích.

Tại Bản án số 134/2018/HSST ngày 17/5/2018 của TAND quận Hoàng Mai xử phạt Nguyễn Mạnh C 6 năm 6 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích.

Bị cáo Lương Minh T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với các bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xét thấy, các bị cáo phạm tội do lỗi cố ý, tại thời điểm phạm tội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma tuý là hành vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi môi trường xã hội mới có đủ tác dụng giáo, cải tạo các bị cáo trở thành những công dân có ích cho xã hội. Đại diện VKSND đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với cả 2 bị cáo là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Các bị cáo đang tạm giam, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Đối với số ma túy đã thu giữ của bị cáo T, là vật cấm lưu hành, do vậy cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (Một) túi vải màu xám, kích thước (20,5 x17,5 x 5) cm, có dây đeo bằng vải không còn giá trị sử dụng thu giữ của Lương Minh T dùng để cất

giấu ma tuý, là công cụ phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng, do vậy cần tịch thu, tiêu huỷ.

- Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu đen, Biển số: 17F1-8360, số máy C100 MSE1072764, số khung C100MS - 1072764 thu giữ của của Lương Minh T, qua quá trình điều tra, xác minh, chủ phương tiện là bà Phạm Thị Minh T1 là mẹ đẻ của bị cáo. Bà T1 đưa xe cho bị cáo làm phương tiện đi lại, không biết bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại chiếc xe trên cho bà T1.

- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S20 màu xám, số IMEI: 352649111685051101 thu giữ của Lương Minh T; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone X màu vàng, lắp sim số 0977.016.884 thu giữ của của Nguyễn Mạnh C, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[7] Đối với hành vi sử dụng ma tuý trước khi bị bắt của Nguyễn Mạnh C và Lương Minh T. Ngày 03/4/2024, Công an huyện H ra quyết định xử phạt hành chính số 480/QĐ-XPHC xử phạt đối với Lương Minh T hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng); Ngày 03/4/2024, Công an huyện H ra quyết định xử phạt hành chính số 481/QĐ-XPHC xử phạt đối với Nguyễn Mạnh C hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) là đúng quy định.

[8] Đối với đối tượng H1 hỏi mua ma túy của T: Cơ quan điều tra không có đủ thông tin về nhân thân của người này, nên không có căn cứ để làm rõ, xử lý là đúng quy định.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định .

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm q, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2024.

Căn cứ khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lương Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt bị cáo Lương Minh T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024.

* Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 (Một) túi nilon kích thước (1,7 x 02) cm trong chứa tinh thể màu trắng thu giữ của của Lương Minh T; 01 (Một) túi nilon kích thước (03 x 03 )cm bên trong chứa 02 viên nén hình lục giác, màu trắng, 06 cạnh kích thước mỗi cạnh 0,6cm, dày 0,3cm, có kí hiệu “VL” của Lương Minh T;
  • + 01 (Một) túi vải màu xám, kích thước (20,5 x17,5 x 5) cm, có dây đeo bằng vải thu giữ của Lương Minh T.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S20 màu xám, số IMEI: 352649111685051101 thu giữ của Lương Minh T;
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone X màu vàng, lắp sim số 0977.016.884 thu giữ của Nguyễn Mạnh C;

- Trả lại cho bà Phạm Thị Minh T1: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu đen, Biển kiểm soát: 17F1-8360, số máy C100 MSE1072764, số khung C100MS -1072764.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; có tình trạng, đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 17/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội)

* Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 135; khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo: Nguyễn Mạnh C và Lương Minh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, Điều 331; khoản 1, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú (thay Thông báo KQXX);
  • - VKSND H. Hoài Đức;
  • - Công an H. Hoài Đức;
  • - Chi cục THADS H. Hoài Đức;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TP. Hà Nội;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Hồng Giang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger