|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày : 22/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Trịnh – Hiệu trưởng Trường THCS Trường Chinh
Ông Vũ Trung Kiên – Cán bộ hưu trí
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Lợi - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Huỳnh Kiến H; Sinh ngày 21 tháng 10 năm 2006 tại Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: A Khu Ô, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông: Huỳnh Ngọc D và bà: Lê Thị Phương T; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 18/12/2023. (Có mặt).
- Phạm Quốc T1; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: F T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 3 Kênh T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông: Phạm Quốc T2 và bà: Võ Thị Kim N; Nhân thân: Ngày 20/12/2020 cùng Danh Hoài S, sinh năm 2004 cướp giật điện thoại di động của anh Nguyễn Văn T3 tại trước nhà số A T, Phường A quận T, nhưng do thời điểm đó Phạm Quốc T1 chưa đủ 14 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T không khởi tố điều tra chỉ thông báo về địa phương để quản lý giáo dục đối với Phạm Quốc T1; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 18/12/2023. (Có mặt).
- Vòng Hằng T4; Sinh ngày 21 tháng 6 năm 2001 tại Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: 2 L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 01/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Con ông: V (C) và bà: Gịp Và Sìn; Vợ, con: Không có; Nhân thân: Quyết định số 207/2019/QĐ-TA ngày 13/12/2019 Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy 18 tháng; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 18/12/2023. (Có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Kiến H: Ông Huỳnh Ngọc D, sinh năm 1980 và bà Lê Thị Phương T, sinh năm 1986, là cha mẹ của bị cáo; Nơi cư trú: A Khu Ô, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bà T có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc T1: Ông Phạm Quốc T2, sinh năm 1984 và bà Võ Thị Kim N, sinh năm 1984, là cha mẹ của bị cáo; Nơi cư trú: F T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bà N có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Kiến H: Ông Vũ Quốc T5, sinh năm 1973 - Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước Thành phố H. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Quốc T1: Ông Trịnh Công M, sinh năm 1953 - Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước Thành phố H. (Có mặt).
- Bị hại: Chị Lê Thị Thanh T6, sinh năm 2000; Nơi cư trú: 2 T, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Lệ T7, sinh năm 1972; Địa chỉ: 1 H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/12/2023, Huỳnh Kiến H dùng mạng xã hội Messenger Facebook gọi cho Phạm Quốc T1 rủ đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài thì T1 đồng ý. Khoảng 13 giờ ngày 13/12/2023, T1 hỏi mượn anh Vòng Quốc V xe Honda wave biển số 59D3-287.87 để đi chơi, sau đó T1 nói H đi đến địa chỉ số B T, phường H, quận T gặp anh V lấy xe rồi đến nhà của Vòng Hằng T8, địa chỉ số B L, phường B, quận B gặp T1. T1 mang theo biển số xe giả 77D1-130.54 do T1 mua trước đó ở Quận A đi xe ôm công nghệ G đến nhà của T8 gặp H. Tại đây, T1 và H gắn biển số xe giả 77D1-130.54 vào xe của anh V để cả hai đi cướp giật tránh bị công an phát hiện. Sau đó, T1 điều khiển xe chở H đi qua nhiều tuyến đường để tìm người có tài sản sơ hở cướp giật. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến trước số B T, Phường I, quận T thì H phát hiện chị Lê Thị Thanh T6 đang ngồi trên xe mô tô hiệu Honda SH màu trắng, biển số 67L2-855.41 dừng sát lề đường sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax liền chỉ cho T1 thấy. T1 điều khiển xe lên ép sát vào bên trái của chị T6 để cho H ngồi sau dùng tay phải giật được chiếc điện thoại của chị T6 rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát. Cả hai chạy xe về nhà của T8 ở quận B. Khi tới nhà T8, T1 đưa điện thoại cho T8 và nói đây là chiếc điện thoại di động T1 và H vừa mới cướp giật được rồi nhờ T8 đem đi bán. Tạt kiểm tra điện thoại rồi đồng ý mua điện thoại với giá 4.000.000 đồng để sử dụng thì T1 đồng ý. T8 đưa trước cho T1 2.500.000 đồng, còn thiếu lại 1.500.000 đồng. Sau khi bán được điện thoại, T1 và H chia nhau mỗi người 1.250.000 đồng tiêu xài.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiến hành khám nghiệm hiện trường, rà soát camera xác định Phạm Quốc T1 và Huỳnh Kiến H thực hiện hành vi phạm tội nên triệu tập các đối tượng đến Công an quận T làm việc.
Tại cơ quan điều tra, Huỳnh Kiến H, Phạm Quốc T1 và Vòng Hằng T8 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, hình ảnh camera thu giữ, vật chứng thu giữ, biên bản xác nhận địa điểm.
Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, 256GB, tình trạng đã qua sử dụng, vào thời điểm ngày 13/12/2023 có giá trị 12.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, 256GB là tài sản của chị Lê Thị Thanh T6 bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận T đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Lê Thị Thanh T6.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen biển số 59D3-287.87. Qua xác minh, chủ xe là chị Trần Lệ T7. Chị T7 cho con là anh Vòng Quốc V sử dụng. Ngày 13/12/2023, anh V cho T1 và H mượn xe đi công việc. Anh V không biết việc cả hai sử dụng xe đi cướp giật. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận T đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Trần Lệ T7.
- 01 biển số xe 77D1-130.54 thu giữ của Phạm Quốc T1, qua xác minh, biển số xe trên là của xe W do anh Nguyễn Quốc A đứng tên đăng ký. Kết quả tra cứu vật chứng, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Anh Quốc A trình bày anh vẫn đang quản lý sử dụng chiếc xe này, không bị mất trộm lần nào, anh không có ý kiến gì về biển số xe này.
- 01 nón bảo hiểm màu trắng và 01 đôi dép quai ngang màu đen, sọc trắng có chữ Sport thu giữ của Phạm Quốc T1.
- 01 nón bảo hiểm màu đen có tem hiệu Napoli và 01 đôi dép quai ngang sọc carô màu vàng đen thu giữ của Huỳnh Kiến H.
Trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Thanh T6 đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 21 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Huỳnh Kiến H và Phạm Quốc T1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Bị cáo Vòng Hằng T8 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát tại phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị xử phạt Huỳnh Kiến H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Phạm Quốc T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Vòng Hằng Tạt từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho các bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Kiến H là luật sư Võ Quốc T9 trình bày: Thống nhất về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố. Đồng thời nêu các tình tiết về nguyên nhân, điều kiện phạm tội, hoàn cảnh gia đình, sự tác động của xã hội, các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó xét xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo cơ cơ hội làm lại cuộc đời.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Quốc T1 là luật sư Trịnh Công M trình bày: Thống nhất về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố. Đồng thời nêu các tình tiết về nguyên nhân, điều kiện phạm tội, hoàn cảnh gia đình, sự tác động của xã hội, các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó xét xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất dưới khung hình phạt để bị cáo cơ cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Huỳnh Kiến H, Phạm Quốc T1 và Vòng Hằng T8, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, luật sư, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận các bị cáo Huỳnh Kiến H và Phạm Quốc T1 đã có hành vi điều khiển xe gắn máy rồi công khai chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng 256GB trị giá 12.000.000 đồng của chị Lê Thị Thanh T6, đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Vòng H1 Tạt biết điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng 256GB là do các bị cáo Huỳnh Kiến H, Phạm Quốc T1 phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua để sử dụng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Huỳnh Kiến H và Phạm Quốc T1 là rất liều lĩnh ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác ngay trên đường phố nơi đông người và dùng thủ đoạn nguy hiểm là xe gắn máy phân khối lớn, là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện phạm tội, tiềm ẩn nguy cơ dễ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại và những người đang lưu thông trên đường. Xét về tính chất vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo đủ khả năng nhận thức hành vi cướp giật tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, chứng tỏ các bị cáo có thái độ coi thường pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Vòng Hằng T8 là nguy hiểm cho xã hội, tiếp tay cho các tội phạm khác, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương và hoạt động bình thường của các tổ chức, cơ quan nhà nước. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật.
Trong vụ án này, bị cáo H là người rủ rê bị cáo T1 là người dưới 18 tuổi phạm tội, thuộc trường hợp “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xét nhân thân bị cáo T1 và bị cáo T8 là xấu, bị cáo T8 đã bị xử lý hành chính nhưng không lấy làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về phần bào chữa của các luật sư cho bị cáo Huỳnh Kiến H và Phạm Quốc T1: Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận một phần.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại; Khi phạm tội bị cáo H là người dưới 18 tuổi, bị cáo T1 là người dưới 16 tuổi; Bị cáo T8 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo H và T1 theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Cho bị cáo T8 theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Lê Thị Thanh T6 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Các bị cáo Huỳnh Kiến H và Phạm Quốc T1 khai bán chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng 256GB cho bị cáo T8, bị cáo T8 đã trả trước số tiền 2.500.000 đồng cho các bị cáo H và T1. Các bị cáo H và T1 đã chia nhau mỗi người được 1.250.000 đồng và tiêu xài hết. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tiền do các bị cáo H và T1 phạm tội mà có nên cần buộc các bị cáo H và T1 nộp lại để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Về vật chứng:
- - 01 biển số xe 77D1-130.54 thu giữ của bị cáo T1, xét thấy đây là vật không có giá trị và không ai có yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy.
- - 01 nón bảo hiểm màu trắng và 01 đôi dép quai ngang màu đen, sọc trắng có chữ Sport thu giữ của bị cáo T1; 01 nón bảo hiểm màu đen có tem hiệu Napoli và 01 đôi dép quai ngang sọc carô màu vàng đen thu giữ của bị cáo H, xét thấy đây là những vật không có giá trị và các bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy.
[6] Về án phí:
Các bị cáo Huỳnh Kiến H và Vòng Hằng T8 phải chịu án phí theo quy định.
Do bị cáo Phạm Quốc T1 tại thời điểm xét xử dưới 16 tuổi nên bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh Kiến H;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Quốc T1;
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vòng Hằng T8;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Kiến H và Phạm Quốc T1 phạm tội “Cướp giật tài sản”; Bị cáo Vòng Hằng T8 phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- - Xử phạt: Huỳnh Kiến H 02 (H2) năm tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.
- - Xử phạt: Phạm Quốc T1 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.
- - Xử phạt: Vòng Hằng Tạt 09 (Chín) tháng tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.
[2] Buộc bị cáo Huỳnh Kiến H phải nộp lại số tiền 1.250.000 (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Phạm Quốc T1 phải nộp lại số tiền 1.250.000 (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[3] Tịch thu và tiêu hủy: 01 biển số xe 77D1-130.54; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 đôi dép quai ngang màu đen, sọc trắng có chữ Sport; 01 nón bảo hiểm màu đen có tem hiệu Napoli và 01 đôi dép quai ngang sọc carô màu vàng đen.
(Tình trạng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 89 /BB/2024 ngày 22/4/2024 giữa Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình)
[4] Bị cáo Huỳnh Kiến H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vòng Hằng T8 phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Quốc T1 được miễn nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, luật sư có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Quang Thiện |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH về hình sự (cướp giật tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Kiến H và Phạm Quốc T1 phạm tội "Cướp giật tài sản"; Bị cáo Vòng Hằng T8 phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
