TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày 13/11/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hưng Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Xuân Tùng- Thư ký TAND huyện Hạ Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thắm- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Chung T; Sinh ngày 13/4/2008 ở xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: khu A xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không xác định và con bà Trần Thị Phương H, sinh năm 1974. Bị cáo chưa có vợ, con; Gia đình bị cáo có 04 người, bị cáo là thứ ba; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 26/9/2024 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/10/2024 đến ngày 29/10/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt tại phiên tòa).
(Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo được 16 tuổi 06 tháng 14 ngày)
Người đại diện cho bị cáo T: Bà Trần Thị Phương H, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Khu A xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo T là bà Bùi Thị Thanh N - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Tạ Đức A, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2009;
Người đại diện cho anh A là ông Tạ Công T1, sinh năm 1985;
Đều có địa chỉ: Khu E xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Đều vắng mặt)
Những người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2006; Địa chỉ: Khu D xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
- Anh Trần Văn L, sinh năm 1996; Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
- Chị Lò Thị D, sinh năm 2006;
- Chị Lò Thị D1, sinh năm 2006;
- Chị Lò Thị T2, sinh năm 2006; Đều có địa chỉ: Bản M, xã L, huyện T, tỉnh Sơn La.
- Chị Lê Thị T3, sinh năm 2006; Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ ngày 27/10/2024, tổ công tác Công an huyện H khi đang thực hiện kế hoạch tuần tra kiểm soát tại đoạn đường liên khu thuộc khu E xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ phát hiện Trần Chung T, sinh ngày 13/4/2008, ở khu A, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ đang điều khiển xe máy BKS: 19AE-054.62 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ, T tự giác giao nộp 01 túi nilon màu đen, bên trong có 02 khối hình hộp có kích thước 17 x 17 x 10 cm, xung quanh mỗi khối hộp được gián giấy có in hoạ tiết hoa văn và chữ nước ngoài nhiều màu sắc; 01 khối hình hộp có kích thước 15,4 x 15,4 x 14,4 cm, xung quanh khối hộp được gián giấy có in hoạ tiết hoa văn và chữ nước ngoài nhiều màu sắc; 01 khối hình hộp có kích thước 16 x 13 x 14,5 cm, xung quanh khối hộp được gián giấy có in hoạ tiết hoa văn và chữ nước ngoài nhiều màu sắc; 02 dây (tràng) được tạo bởi các vật hình trụ tròn được quấn bằng giấy có vỏ màu đỏ, mỗi vật hình trụ tròn đều có kích thước dài 4,6cm, đường kính 1cm, một đầu dây (tràng) có gắn với 01 đoạn dây dẫn kết lại với nhau thành tràng, mỗi tràng dài khoảng 150cm. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, niêm phong số vật chứng trên vào 01 thùng cát tông gửi giám định. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 chiếc xe máy BKS: 19AE-054.62, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C lắp sim số 0348.500.633.
Tại bản kết luận giám định số: 1479:KLGĐ, ngày 28/10/2024, Phòng KTHS - Công an tỉnh P kết luận:
“- 04 khối hình hộp xung quanh được gián giấy có in hoạ tiết hoa văn và chữ nước ngoài nhiều màu sắc gửi đến giám định là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo hiệu ứng màu sắc trong không gian), có tổng khối lượng là 6,5 kg.
- 02 dây (tràng) được tạo bởi các vật hình trụ tròn một đầu có gắn với 01 đoạn dây dẫn kết lại với nhau, gửi đến giám định đều là pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng nổ) có tổng khối lượng là 1,4kg.
Pháo nổ, pháo hoa nổ được quy định trong Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo”.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 29/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trần Chung T về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 191 - BLHS, đồng thời làm rõ nội dung vụ án như sau:
Trước đó anh Trần Văn L, sinh năm 1996 ở khu A, xã H, huyện H có thuê một nhà trọ tại khu F, xã H để cho một số nhân viên nữ phục vụ quán hát ở. Từ trưa ngày 27/10/2024, anh L bảo Trần Chung T đến làm cho anh L. Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh L bảo T cùng anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2006 ở khu D, xã H, huyện H chở 04 nhân viên nữ đến quán H3 thuộc khu B, xã H để phục vụ. Thấy T không có xe, anh L giao cho T chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO màu xanh, đen BKS: 19AE- 054.62 để chở nhân viên. Sau đó, anh H1 điều khiển xe chở theo chị Lò Thị D và chị Lò Thị D1 cùng trú tại Bản M, xã L, huyện T, tỉnh Sơn La còn T điều khiển xe máy chở theo chị Lê Thị T3 ở thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và chị Lò Thị T2 ở xã L, huyện T, tỉnh Sơn La. Đến nơi, tất cả ngồi uống nước tại bàn ở sân. Trần Chung T khai: Ngồi uống nước khoảng 15 phút, anh H1 gọi T ra cổng rồi đưa cho T 500.000 đồng, nhờ T đi xe ra khu vực cầu Đ ở khu 5 xã H lấy hộ pháo. T đồng ý, cầm tiền rồi điều khiển xe máy BKS: 19AE-054.62 đi đến khu vực cầu Đ. Tại đây, T gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang đang đứng ở lề đường, cạnh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX. T hỏi người này “có phải anh giao pháo không” thì người đàn ông trả lời “đúng rồi”. Sau đó, người này lại chỗ đất trống gần đó, xách một túi nilon màu đen đưa cho T. Sau khi kiểm tra thấy bên trong là pháo, T lấy máy điện thoại của mình ra quay video rồi buộc lại, để lên giá để hàng phía trước của xe và đưa cho người đàn ông 500.000 đồng. T điều khiển xe chở theo số pháo vừa nhận định quay về khu vực nhà trọ mà anh L thuê để cất cho H1 thì bị tổ công tác Công an huyện H phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như trên.
Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Văn H1 để lấy lời khai, đối chất với T. Tuy nhiên, H1 không thừa nhận việc đưa tiền cho T để nhờ đi mua hộ số pháo trên. Quá trình điều tra không chứng minh được việc anh H1 nhờ T đi mua pháo như T đã khai.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo trên 16 tuổi và dưới 18 tuổi nên được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Vật chứng của vụ án gồm: Quá trình xác định chiếc xe máy BKS: 19AE-054.62 mà anh Trần Văn L đưa cho T điều khiển là của anh Tạ Đức A, sinh năm 2009 ở khu E xã H, huyện H là cháu của anh L. Anh L, cháu A không biết việc T sử dụng chiếc xe trên để đi mua pháo nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho cháu A.
Hiện Cơ quan điều tra còn tạm giữ: 01 hộp cattong được niêm phong dán kín bên trong là 4,7 kg pháo hoa nổ và 1,3kg pháo nổ là mẫu vật hoàn trả sau giám định; 01 túi nilon màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C lắp sim số 0348.500.633.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 64/QĐ- VKSHH ngày 04/11/2024 của Viện KSND huyện H truy tố bị cáo Trần Chung T về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Hạ Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và khẳng định Quyết định truy tố bị cáo T về tội danh và điều luật đã nêu là hoàn toàn đúng.
Đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trần Chung T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91 và Điều 96 - Bộ luật Hình sự; Điều 430 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị không áp dụng hình phạt đối với bị cáo Trần Chung T.
Đề nghị Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với bị cáo Trần Chung T từ 15 đến 18 tháng, thời hạn được tính kể từ ngày bị cáo được đưa vào trường G.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Đề nghị xác nhận cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại cho anh Tạ Đức A 01 chiếc xe máy BKS: 19AE-054.62
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 4,7 kg pháo hoa nổ và 1,3kg pháo nổ được niêm phong trong thùng đựng cát tông; 01 túi ni lon màu đen, đã qua sử dụng;
Đề nghị trả lại cho bị cáo T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 10C, màu xanh có lắp sim số 0348500633.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/NQ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Chung T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn thừa nhận đã có hành vi phạm tội như đã nêu trong Quyết định truy tố, không có lời bào chữa nào khác và xin HĐXX xem xét chiếu cố cho bị cáo giáo dục tại trường G trong thời gian ngắn nhất.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo giáo dục tại trường G trong thời gian ngắn nhất.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo nhất trí với Quyết định truy tố và đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa đã nêu và xác định bị cáo Trần Chung T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, đề nghị HĐXX xem xét, cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ và hoàn cảnh gia đình để áp dụng các quy định của pháp luật và xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với bị cáo với thời gian ngắn nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người đại diện cho bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đã khai báo đầy đủ, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bằng những lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận.
Vào hồi 21 giờ ngày 27/10/2024, tại đoạn đường liên khu thuộc khu E xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ, Trần Chung T, sinh ngày 13/4/2008 ở khu 13 xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ trái phép 7,9 kg pháo nổ, trong đó có 6,5kg pháo hoa nổ, 1,4kg pháo nổ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H phát hiện bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Thời điểm phạm tội bị cáo đã trên 16 tuổi và dưới 18 tuổi, như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Trần Chung T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Điều 191 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
c) P nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam";
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của VKSND huyện Hạ Hòa đối với bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3].Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất của vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã ngang nhiên xâm phạm đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Hơn nữa, nó còn là mầm mống gây nên các hậu quả nghiêm trọng khác.
Xét về nhân thân: Bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, lúc phạm tội bị cáo mới được 16 tuổi 06 tháng 14 ngày, đáng lẽ ra ở độ tuổi này bị cáo còn phải ngồi trên ghế nhà trường để học tập, trau dồi kiến thức, tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, nhưng bị cáo không làm được việc đó mà chỉ vì ham chơi, thích đua đòi, lười lao động nên dẫn đến phạm tội.
Xét về các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ: Mặc dù bị cáo chưa có tiền án, nhưng có 01 tiền sự. Ngày 26/9/2024 Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51- BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và môi trường sống của bị cáo, nên vụ án cần phải được đưa ra xét xử, nhưng không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với bị cáo mà chỉ cần áp dụng biện pháp tư pháp, cần có một tổ chức giáo dục, có kỷ luật chặt chẽ đó là trường G để bị cáo có điều kiện học tập, học nghề, lao động, sinh hoạt để giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy tại khoản 4 Điều 191- BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Xét thấy bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, không có nghề nghiệp ổn định, hiện sinh sống cùng mẹ đẻ. Bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Tại phiên tòa hôm nay trợ giúp viên pháp lý, bào chữa cho bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo cũng nhận thức rõ hành vi phạm tội của bị cáo như Quyết định truy tố đã nêu, không có lời bào chữa, tranh luận gì và đều đề nghị HĐXX xem xét Quyết định khi áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với bị cáo với thời gian ngắn nhất. Xét đề nghị của trợ giúp viên pháp lý và người đại diện HĐXX sẽ xem xét, cân nhắc khi Quyết định áp dụng.
Đối với người đàn ông bán pháo cho T, quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa làm rõ được người này là ai, ở đâu nên trong vụ án này chưa đề cập xử lý. Sau này làm rõ được sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Đối với anh Tạ Đức A1 chủ sở hữu chiếc xe máy BKS: 19AE-054.62, do anh Trần Văn L là người trực tiếp giao chiếc xe trên cho bị cáo T, quá trình điều tra xác định cả hai không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn H1, trong quá trình điều tra không làm rõ được và không đủ cơ sở là người đưa tiền cho bị cáo T để đi mua pháo do đó không đề cập xử lý đối với anh H2 phù hợp.
[5]. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe máy BKS: 19AE-054.62 mà anh Trần Văn L giao cho T điều khiển là của anh Tạ Đức A. Anh L, anh Anh không biết việc T sử dụng chiếc xe trên để đi mua pháo nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh A là phù hợp cần xác nhận.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C lắp sim số 0348.500.633 xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần được trả lại cho bị cáo Thủy là phù hợp.
Các vật chứng còn lại gồm: 01 hộp cáttông được niêm phong dán kín bên trong là 4,7 kg pháo hoa nổ và 1,3kg pháo nổ là mẫu vật hoàn trả sau giám định; 01 túi nilon màu đen là hàng cấm và dụng cụ chứa hàng cấm cần tịch thu tiêu hủy.
[6].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ luieen quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên VKSND huyện Hạ Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 96; Điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 và Điều 430 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Chung T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Không áp dụng hình phạt đối với bị cáo Trần Chung T.
- Áp dụng biện pháp giáo dục tại trường G đối với bị cáo Trần Chung T trong thời gian 15 (Mười lăm) tháng. Thời hạn kể từ ngày bị cáo được đưa vào trường G. Người được giáo dục tại trường phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý của nhà trường.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
- Về xử lý vật chứng: Xác nhận cơ quan Điều tra Công an huyện H đã trả cho anh Tạ Đức A 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO màu xanh đen, BKS: 19AE-054.62. Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 01/11/2024 là hợp pháp.
- Trả lại cho bị cáo Trần Chung T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C màu xanh có lắp sim số 0348.500.633, đã qua sử dụng.
- Tịch thu cho tiêu hủy các vật chứng còn lại gồm: 4,7 kg pháo hoa nổ và 1,3kg pháo nổ được niêm phong dán kín trong thùng đựng cát tông là mẫu vật hoàn trả sau giám định và 01 túi nilon màu đen, đã qua sử dụng.
- (Các vật chứng có tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ).
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Chung T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm do bà Trần Thị Phương H là người đại diện (Mẹ đẻ của bị cáo T) nộp thay.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo (Đều có mặt) được quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc phẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hưng Thủy |
9
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (tàng trữ hàng cấm)
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án bị cáo Trần Chung Tphạm tội “Tàng trữ hàng cấm”
