Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 64 /2024/HS-ST

Ngày: 22 - 8 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Thuỳ;

Ông Lê Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1971; nơi cư trú: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lê Văn T1 (Lê Văn T2) và bà Nguyễn Thị N đều đã chết; gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1975 và có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án: Ngày 28/10/1994 bị Toà án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Kết quả xác minh hình phạt chính: Đã chấp hành xong ngày 08/5/1995. Kết quả xác minh phần án phí HSST 50.000 đồng (chưa thi hành): Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã ủy thác theo quyết định ủy thác số 117 ngày 01/12/1994 cho Đội thi hành án dân sự huyện X, xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy không nhận được hồ sơ ủy thác.

Tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 07/4/2024 đến ngày 16/4/2024 chuyển tạm giam; “có mặt”.

- Người chứng kiến: Ông Lưu Xuân Đ; “vắng mặt”;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 07/4/2024, Lê Văn T đi bộ từ nhà, ở xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định đến tổ B, thị trấn X, huyện X mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực dân cư thuộc tổ B thị trấn, Thiệu gặp một nam thanh niên lạ mặt, không quen biết. Qua dò hỏi, T biết người này bán ma túy nên hỏi mua 200.000 đồng Heroine. Người thanh niên đồng ý, nhận 200.000 đồng và đưa cho T 01 gói nhỏ gói bằng giấy vở học sinh màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Thiệu nhận kiểm tra xác định là H và cất ở túi quần bên trái, đi bộ về tìm nơi sử dụng. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày khi T đi đến đường dân cư thuộc khu vực xóm A, xã X thì bị Tổ công tác Công an xã X làm nhiệm phát hiện Thiệu có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Lê Văn T đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác gói nhỏ vừa mua và khai nhận đó là gói H để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng ký hiệu M và mời người chứng kiến, đưa Lê Văn T cùng vật chứng về trụ sở UBND xã X lập biên bản phạm tội quả tang. Sau đó chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT công an huyện X giải quyết theo thẩm quyền.

Kết quả xét nghiệm định tính Morphin ngày 07/4/2024 xác định: Lê Văn T dương tính với M.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn T nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Tại bản kết luận giám định số 706/GĐKTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M trưng cầu giám định là ma túy. Loại ma túy Heroine, khối lượng M: 0,191 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên.

Cáo trạng số 61/CT-VKSXT ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lê Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù;

Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, cho tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo.

Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 07/4/2024, tại đường dong khu vực dân cư thuộc xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Lê Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,191 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của Lê Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản,... làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; là người nghiện ma túy nên bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều

3

tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng thu giữ: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[8] Đối với người thanh niên bán ma túy cho Lê Văn T, quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
    • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
    • - Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2024.
  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 706/GĐKTHS của Phòng K Công an tỉnh N.
    • (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 82/CCTHA ngày 25/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí

4

Toà án buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Công an huyện;
  • - UBND xã Xuân Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Thung

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 07/4/2024, tại đường dong khu vực dân cư thuộc xóm 1, xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Lê Văn Thiệu có hành vi tàng trữ trái phép 0,191 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger