Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày: 17/07/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Vương Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lý

Ông Võ Ngọc Ánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Tú Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 07 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

CAO VĂN T - Sinh năm: 1965 tại Khánh Hòa

Nơi ĐKHKTT: 18 V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa

Nơi ở: không có nơi ở nhất định

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn C (đã mất) và bà Trần Thị T (đã mất); Vợ: Nguyễn Thị Yến H (sinh năm: 1969, đã ly hôn), có 3 con lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1996.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 06/11/1984 bị UBND tỉnh K ra Quyết định tập trung cải tạo thời hạn 3 năm về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 16/2015/HSST ngày 23/01/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 tháng 6 ngày tù về tội "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 17/10/2014, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 9.445.492 đồng, được tuyên trả tự do tại phiên toà, đã đóng án phí HSST năm 2015.

- Bản án số 27/2020/HSST ngày 11/05/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 19/12/2019, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 11.994.000 đồng; chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/9/2020, đã nộp án phí HSST ngày 04/9/2020.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Bà Feng Chung L - Sinh năm: 1957 (Quốc tịch: Trung Quốc)

Địa chỉ: P Khách sạn S, số G T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Lê Thị An N - Sinh năm: 1991

Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Ông Lê Minh Q - Sinh năm: 1975

Địa chỉ: A N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch: Bà Nguyễn Thị Bích U - Sinh năm: 1981

Địa chỉ: A N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 23/02/2024, Cao Văn T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79C1-170.01 đến bãi đỗ xe trên đường T đối diện đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa rồi đi bộ đến khu vực bãi biển Đ, đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa để tắm biển. Khi đang tắm biển, T1 thấy bà Feng Chun L1 (Quốc tịch Trung Quốc) đặt 01 túi xách màu đen (bên trong có 500 Nhân dân tệ và 705.000 Việt Nam đồng) trên bãi cát và đứng chụp ảnh cách đó khoảng mười mét. Thấy bà F lơ là trong việc trông giữ tài sản nên T1 này sinh ý định trộm cắp. T1 bơi vào bờ, lợi dụng lúc bà F không chú ý T1 lén lút đến lấy trộm chiếc túi xách trên và đào một cái hố trên bãi cát gần đó chôn, giấu túi xách vừa trộm được. Đến khoảng 08 giờ 15 phút cùng ngày, T1 quay lại vị trí giấu túi xách và đào túi xách lên. Trong lúc đang đào cát, thì T1 bị anh Lê Minh Q là nhân viên cứu hộ bờ biển nghi ngờ nên đến bắt giữ T1 cùng tang vật (túi xách) và bàn giao cho Công an phường L, thành phố N. Bà Feng Chun L1 sau khi phát hiện bị mất túi xách đã đến Công an phường L, thành phố N để trình báo.

Tại Cơ quan Công an T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Công văn số 192/KHH-THNSKSNB ngày 28/02/2024 của Ngân hàng N1 - Chi nhánh K xác định: Tỷ giá chéo của Đ so với Nhân dân tệ Trung Quốc có hiệu lực từ ngày 22/02/2024 đến ngày 28/02/2024 là 3.338,71 VNĐ/CNY, Vì vậy, vào ngày 23/02/2024, 500 Nhân dân tệ có giá trị là 1.669.355 đồng.

Tại Công văn số 239/HĐĐG ngày 20/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố N xác định: 01 túi xách không có thông tin về nhãn hiệu, chủng loại, nguồn gốc xuất xứ, tình trạng của tài sản tại thời điểm định giá, đồng thời không có hóa đơn, chứng từ có liên quan kèm theo. Vì vậy, Hội đồng không có cơ sở để định giá.

Trong quá trình điều tra bị can Cao Văn T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại.

Vật chứng vụ án:

  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Nozza màu xám, biển kiểm soát 79C1-170.01 chuyển Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
  • + 01 (một) giỏ xách màu nâu đen bên trong có 500 nhân dân tệ tiền Trung Quốc, 705.000 đồng (Bảy trăm lẻ năm nghìn đồng) và một số giấy tờ cá nhân gồm: 02 thẻ ngân hàng tên Feng Chung L, 01 thẻ công dân Trung Quốc tên Feng C1 Ling số 510103195712051920, 01 thẻ quân nhân Trung Quốc số 510103193211115122 tên Wang Y đã trả chủ sở hữu bà Feng Chung L (Bút lục 52, 53).

Bản Cáo trạng số 54/CT-VKSKH-P1 ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Cao Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi phân tích các tình tiết về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết về nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Cao Văn T1 mức hình phạt từ 9 tháng đến 1 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên không xét. Về vật chứng, đề nghị hoàn trả cho bị cáo chiếc xe máy đã thu giữ của bị cáo.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Cao Văn T1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng hình sự: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Công an tỉnh K, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án nhưng tất cả những người tham gia tố tụng nói trên đều vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.

[2] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Cao Văn T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có căn cứ để xác định rằng vào ngày 23/2/2024, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản mà bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc túi xách bên trong có 500 nhân dân tệ và 705.000 đồng của bị hại Feng Chung L. Tổng giá trị tài sản bị bị cáo chiếm đoạt là 2.374.355 đồng. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, bản cáo trạng số 54/CT-VKSKH-P1 ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Cao Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương và hình ảnh của đất nước Việt Nam trong mắt du khách nước ngoài. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản, nay lại tiếp tục phạm tội, tuy bị cáo đã được xóa án tích, nhưng cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo hiệu quả răn đe, phòng ngừa tội phạm và giáo dục chung cho xã hội.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Cao Văn T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại toàn bộ cho người bị hại, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Theo hồ sơ vụ án, bị hại F1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị An N xác định không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Nozza màu xám, biển kiểm soát 79C1-170.01 thu giữ của bị cáo Cao Văn T1:

Bị cáo khai đây là xe máy do bị cáo mua từ một cửa hàng bán xe cũ trên đường giao nhau giữa Trần Quý C2 và Phan Đình G, Nha T2, bị cáo không xuất trình được hợp đồng mua bán xe. Tại Biên bản xác minh ngày 22/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, vào thời điểm năm 2019 tại ngã tư T - P có một tiệm mua bán xe máy cũ nhưng hiện tại không rõ đã chuyển đi đâu. Theo Phiếu trả lời xác minh xe ngày 27/2/2024 của Công an thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, chủ sở hữu của xe mô tô nói trên là bà Lê Thị An N. Bà N xác định chiếc xe mô tô nói trên đã được bà bán lại cho người khác từ lâu, bà không giữ giấy tờ mua bán xe. Xét thấy xe mô tô nói trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng là tài sản chưa xác định được chủ sở hữu, do đó, cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục tạm giữ để thông báo trong thời hạn 1 năm cho chủ sở hữu hợp pháp đến nhận lại tài sản và tiếp tục tiến hành điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo Cao Văn T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Cao Văn T1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo CAO VĂN TÙNG 9 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/2/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Feng Chun L1 và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;

  • * Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục tạm giữ một xe môtô nhãn hiệu Nozza màu xám, biển kiểm soát 79C1-170.01 thu giữ của bị cáo Cao Văn T1 để thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trong thời hạn 1 năm và tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
  • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo Cao Văn T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÂM VƯƠNG MỸ LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Van T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger