|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày: 16-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Xuân Tỵ - Là chủ tịch Hội luật gia thành phố Bảo Lộc.
- Bà Nguyễn Thị Hạnh - Nguyên là cán bộ Hội phụ nữ, Ban dân vận thành phố Bảo Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Trí N, sinh ngày 17/01/2005 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Trí V, sinh năm 1972 (đã chết) và con bà Phạm Thị N1, sinh năm 1972; hiện trú tại thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; gia đình có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2008, bị cáo là con thứ 2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 26/12/2023 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Ngân H, sinh ngày: 31/5/2008; nơi cư trú: Số D L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị Ngân H:
Ông Nguyễn Tiến H1, sinh năm: 1981; nơi cư trú: Số D L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Bà Bùi Thị Mỹ H2, sinh năm: 1988; nơi cư trú: Số I Hà Giang, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị N1, sinh năm: 1972; nơi cư trú: Thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng giữa năm 2023 thông qua mạng xã hội Facebook, Bùi Trí N đã dùng tài khoản tên “Trí Nam Bùi” để kết bạn và làm quen với tài khoản tên “Hà Ngân” của cháu Nguyễn Thị Ngân H. Cả hai thường xuyên nói chuyện qua lại đến khoảng tháng 9 năm 2023 thì nảy sinh tình cảm yêu đương. Trong khoảng thời gian từ ngày 22/9/2023 đến ngày 27/9/2023, N đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu H, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 13 giờ ngày 22/9/2023, sau khi đi ăn cưới về N nhắn tin nói chuyện với H qua ứng dụng Messenger. Trong lúc nói chuyện N rủ H đi thuê nhà nghỉ để quan hệ tình dục thì được H đồng ý. Tuy nhiên, do N là người ở nơi khác không biết nhà nghỉ nào để thuê nên N đã nói H thuê nhà nghỉ trước rồi chỉ đường cho N đến. Sau đó, H một mình đến nhà nghỉ K tại số B T, phường L, thành phố B hỏi thuê phòng số 07 rồi gọi điện chỉ đường cho N đến. N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius màu đen đến nhà nghỉ K gặp H. Khi vào phòng, N và H cùng nằm trên giường sử dụng điện thoại và nói chuyện với nhau. Khoảng 10 phút sau N lăn đến vị trí H đang nằm, N nằm cùng chiều sát bên trái H rồi dùng hai tay ôm H. Lúc này H nằm im không phản ứng gì nên N dùng tay phải luồn từ phía dưới vào bên trong áo của H rồi nắn bóp hai bên “vú” của H, còn H quay mặt nhìn về phía Nam nên N đã hôn H. Sau đó, H chủ động kéo mở khóa kéo phía sau lưng xuống để N dùng tay cởi áo vải màu đen và áo lót bên trong của H ra. Đồng thời, N mở cúc khóa và kéo khóa kéo quần jeans của H xuống. Ngay sau đó H dùng tay cởi chiếc quần jeans và quần lót của H đặt ở trên giường, N cũng dùng tay tự cởi chiếc áo thun và chiếc quần jeans N đang mặc. Khi này, cả hai đều không mặc quần áo thì N cầm dương vật đang cương cứng của N cho vào trong âm đạo của H rồi thực hiện hành vi quan hệ tình dục với H được khoảng 15 phút thì N xuất tinh lên chiếc khăn đặt trên giường ngủ. Sau đó, N và H mặc đồ vào cùng nằm trên giường nói chuyện một lúc rồi đi về.
Lần thứ hai: Tối ngày 27/9/2023, trong lúc nhắn tin nói chuyện, H nói với N về việc H bị bố đánh và muốn lên nhà N tại xã G, huyện D chơi thì được N đồng ý. N nói H đón xe buýt lên đến nhà thờ P rồi N đến đón. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 28/9/2023, H đón xe buýt từ thành phố B đến nhà thờ P, xã G, huyện D thì N ra đón và chở H đến nhà N tại số F, thôn P, xã G, huyện D chơi. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày khi chỉ có N và H ở nhà, H nằm sử dụng điện thoại ở trên giường trong phòng ngủ của N. Thấy vậy N cũng leo lên giường nằm sát bên trái của H và ôm H, N nói muốn quan hệ tình dục với H thì được H đồng ý. H đã dùng tay cởi dây khóa kéo quần của H xuống, N dùng tay kéo quần đùi và quần lót của H ra rồi kéo áo thun và áo lót trong của H lên qua ngực rồi N tự cởi chiếc quần thun màu trắng N đang mặc xuống ngang đầu gối của mình. N dùng tay trái cầm và điều chỉnh dương vật đang cương cứng của N cho vào trong âm đạo của H và thực hiện hành vi quan hệ tình dục nhưng không xuất tinh. Sau đó, N và H mặc quần áo vào nằm nói chuyện. Đến sáng ngày 29/9/2023 thì H đi xe buýt về lại thành phố B.
Trong cả hai lần thực hiện hành vi giao cấu thì H hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, đe dọa, đánh đập.
Tại Kết luận giám định số 55 ngày 11/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Màng trinh rách cũ ở vị trí 6 giờ, 7 giờ và 11 giờ; Toàn thân không dấu tổn thương; Test thai âm tính. Tại thời điểm giám định Nguyễn Thị Ngân H không có thai.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tạm giữ: 01 quần jeans màu đen; 01 áo thun màu đen ngắn tay có chữ “Gucci”; 01 quần đùi thun màu trắng ngà có chữ “NEWDESIGN”; 01 áo thun màu trắng ngà có chữ “NEWDESIGN” của bị cáo Bùi Trí N; Số tiền 20.000.000đ do bà Phạm Thị N1 (mẹ bị cáo N) nộp.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc, bị cáo Bùi Trí N đã tác động bà Phạm Thị N1 (là mẹ đẻ) bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000đ (trong đó số tiền 20.000.000đ được bà N1 nộp vào tài khoản tạm gửi của Công an thành phố B để khắc phục hậu quả, số tiền 10.000.000đ được đưa trực tiếp cho gia đình bị hại). Sau khi nhận được số tiền bồi thường trên thì đại diện theo pháp luật của bị hại là anh Nguyễn Tiến H1 đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N, không yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự.
Cáo trạng số: 63/CT-VKSBL ngày 11/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Bùi Trí N về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận đã 02 lần quan hệ tình dục với cháu Ngân H như nội dung bản cáo trạng đã nêu, trong cả 02 lần quan hệ này thì cháu H đều tự nguyện, bị cáo không có hành động gì ép buộc, đe dọa hay đánh đập gì. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Bà Phạm Thị N1 khai nhận: Sau khi biết bị cáo và cháu H đã quan hệ tình dục thì bà đã đến thăm hỏi, động viên cháu H. Do bị cáo tác động nên bà đã bồi thường cho gia đình của cháu H số tiền 30.000.000đ, trong đó 10.000.000đ giao trực tiếp, còn 20.000.000đ đã nộp cho Cơ quan điều tra. Nay bà không có yêu cầu gì về số tiền đã bồi thường thay này.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Trí N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Trí N từ 24 đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận, bị cáo Bùi Trí N bồi thường tiếp 20.000.000đ cho cháu Ngân H nhưng được trừ vào 20.000.000đ mà bà Phạm Thị N1 đã nộp cho Cơ quan điều tra.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:
Do có quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau nên vào ngày 22/09/2023 tại phòng số 07 nhà nghỉ K ở địa chỉ số B đường T, phường L, thành phố B, Bùi Trí N là người đủ 18 tuổi đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục đối với cháu Nguyễn Thị Ngân H, sinh ngày 31/05/2008 khi cháu H chưa đủ 16 tuổi (15 tuổi 04 tháng 22 ngày). Đến ngày 28/9/2023, Nam lại tiếp tục thực hiện hành vi giao cấu với cháu H ở nhà của N tại thôn P, xã G, huyện D. Trong cả 02 lần quan hệ tình dục này thì N không ép buộc, không đe dọa hay dùng vũ lực gì mà cháu Ngân H đều tự nguyện. Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện, mục đích để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bản thân.
Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Trí N đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung là “Phạm tội từ 02 lần trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần (02 lần) nhưng đây là tình tiết định khung hình phạt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại; được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; có ông ngoại (Phạm Quang H3), ông nội (Bùi Chí H4) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba và Huân chương chiến sĩ vẻ vang nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương; đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của trẻ em, khách thể luôn được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển thể chất bình thường của bị hại cũng như gây ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội một phần cũng do bị hại; bởi lẽ lần đầu thì bị hại là người trực tiếp đi thuê phòng nhà nghỉ, chỉ số phòng để bị cáo đến cùng nhau quan hệ tình dục; còn lần thứ hai thì bị hại chủ động đến nhà bị cáo chơi, xin được ở lại dẫn đến tạo cơ hội thuận lợi cho bị cáo phạm tội nên cũng cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; trong khi bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, chức vụ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Giữa bà Phạm Thị N1 (là mẹ của bị cáo) và ông Nguyễn Tiến H1 (là bố bị hại) đã thỏa thuận về việc bồi thường dân sự. Theo đó mức bồi thường là 30.000.000đ, ông H1 đã nhận được 10.000.000đ, còn bồi thường tiếp 20.000.000đ nữa. Vì vậy, cần ghi nhận sự tự nguyện này, bà N1 có nghĩa vụ bồi thường tiếp 20.000.000đ cho cháu Ngân H nhưng được trừ vào số tiền 20.000.000đ mà bà N1 đã tạm nộp cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B.
- Bà Phạm Thị N1 không yêu cầu bị cáo phải thanh toán lại số tiền đã bồi thường thay cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 quần jeans màu đen; 01 áo thun màu đen ngắn tay có chữ “Gucci”; 01 quần đùi thun màu trắng ngà có chữ “NEWDESIGN”; 01 áo thun màu trắng ngà có chữ “NEWDESIGN”. Đây là những trang phục mà bị cáo N mặc tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, xét giá trị sử dụng còn lại không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Trí N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuôi”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Trí N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 590, 592 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện, bà Phạm Thị N1 có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại là cháu Nguyễn Thị Ngân H số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) mà bà N1 đã tạm nộp cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B và hiện nay đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc. (Theo giấy ủy nhiệm chi số 46 ngày 12/4/2024 đơn vị trả tiền là Công an thành phố B).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) quần jeans màu đen.
- 01 (một) áo thun màu đen ngắn tay có chữ “Gucci”.
- 01 (một) quần đùi thun màu trắng ngà có chữ “NEWDESIGN”.
- 01 (một) áo thun màu trắng ngà có chữ “NEWDESIGN”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc)
- Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Bùi Trí N phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Khắc Phong |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự - giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Trí N phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
