|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2024/HS-ST
Ngày 11 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
| - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: | |
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Quang Vũ |
| Thẩm phán: | Ông Bùi Xuân Trường |
| Các Hội Thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Bá Điền |
| Ông Nguyễn Ngọc Thắng | |
| Bà Nguyễn Thị Tần | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hà- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. |
| - Đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: | Ông Nguyễn Đức H- Kiểm sát viên. |
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 23/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 27/8/2024 đối với:
1. Bị cáo: Họ tên: Nguyễn Thị T; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 16 tháng 8 năm 1986 tại: Nguyên quán: tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: khu B, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: khu B, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1961; Mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1962; Anh chị em ruột: Có 3, bị cáo là thứ nhất; Chồng: Nguyễn Duy L, sinh năm 1984; Con: Nguyễn Phương L1, sinh năm 2008; Con: Nguyễn Khánh N, sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/12/2023. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P(có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Lương H2 - Luật sư thuộc Công ty L4, Đoàn Luật sư tỉnh P.
Địa chỉ: Số nhà A, đường Â, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ(có mặt).
2. Bị hại:
2.1. Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1954, trú tạisố nhà 81, tổ 2b, khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ(có mặt).
2.2. Ông Ma Văn T1, sinh năm 1972, trú tại số nhà D, tổ A, khu dân cư P, P. P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T, sinh năm 1986, trú tại khu B, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ làm nghề kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng như bia, nước ngọt, gạo, dầu ăn... tại xã B, do dịch bệnh Covid 19 nên việc kinh doanh bị thua lỗ, nợ tiền của nhiều người và không có khả năng thanh toán. Sau đó để có thu nhập và có tiền trả nợ, T đi làm nhân viên tiếp thị bán hàng cho các nhà phân phối ở thị xã P, công việc của T là tiếp thị các mặt hàng tiêu dùng (gạo, dầu ăn, bia, nước ngọt...) cho các cửa hàng, đại lý trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, được trả lương theo tháng và hưởng phần trăm doanh thu bán hàng. Quá trình làm nhân viên tiếp thị cho nhà phân phối Tuấn T2 (địa chỉ ở khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ), T đã mua các mặt hàng thuốc lá như T, S, K1, V, N1 — từ các nhân viên bán hàng của nhà phân phối Thủy C (địa chỉ ở khu dân cư P, phường P, TX. P), sau đó bán lại cho các cửa hàng, đại lý trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để hưởng lợi nhuận chênh lệch, trong đó có cửa hàng của ông Nguyễn Thành Đ và Ma Văn T1. Từ tháng 9/2022 đến tháng 5/2023, T đều giao hàng thuốc lá đầy đủ, đúng hẹn và khi nào giao đủ hàng thì cửa hàng, đại lý đó mới phải thanh toán tiền hàng. Đến khoảng tháng 6/2023, T bị nhiều người đòi nợ, do cần tiền để trả nợ T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Thành Đ và Ma Văn T1. Các thức thực hiện hành vi chiếm đoạt là T đã đưa ra các thông tin giả về việc có khả năng nhập hàng thuốc lá từ công ty và nhà phân phối với giá rẻ hơn giá thị trường từ 50.000₫ đến 100.000đ/ 1 thùng khi thanh toán tiền trước; thông tin giả về việc công ty, nhà phân phối có khuyến mại nếu mua từ 40 thùng thuốc lá trở lên thì sẽ được tặng thêm 2 cây thuốc lá Ngựa tương ứng số tiền 450.000₫ và mời chào ông Đ, ông T1 chuyển tiền mua hàng rồi chiếm đoạt tiền. Ông Đ và ông T1 tưởng T nói thật nên đã nhiều lần chuyển tiền mua thuốc lá cho T và bị T chiếm đoạt mất tiền. Trong quá trình lừa ông Đ và ông T1, để ông Đ và ông T1 không phát hiện, T vẫn mang đơn thuốc lá đến giao cho ông Đ và ông T1 nhưng tiếp tục lừa ông Đ và ông T1 là để cho T mang đi bán thì có lãi hơn từ 50.000đ đến 100.000 đ/ 1 thùng, hoặc có lần không có thuốc lá nhưng T vẫn nói thuốc để trên xe và nhận đem bán luôn cho ông T1 ông Đ và chỉ trả tiền lãi như trên cho ông T1, ông Đ. Hoặc T lấy thuốc lá của ông T1 đặt mua trả cho ông Đ và ngược lại khiến cả ông Đ và ông T1 không phát hiện ra mình bị lừa và tiếp tục bị T chiếm đoạt tiền.
Với các thủ đoạn nêu trên, T đã chiếm đoạt của ông Đ số tiền là 701.975.000đ, chiếm đoạt của ông T1 số tiền là 1.814.525.000đ. Số tiền chiếm đoạt được của ông Đ và ông T1, T đã dùng để trả nợ và tiêu sài hết.
Cụ thể các lần bị can lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Thành Đ và Ma Văn T1 như sau:
1. Hành vi chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1954, trú tại tổ 2b, khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ:
* Ngày 05/7/2023, T đã hai lần lừa chiếm đoạt tiền và hàng thuốc lá của ông Đ, cụ thể:
- Lần 1: ông Đ đặt mua 50 thùng thuốc lá Thăng Long (mỗi thùng 50 cây, mỗi cây là 10 bao) x 9.500đ/1 bao = 237.500.000đ; 5 thùng thuốc lá S x 11.200đ/1 bao = 28.000.000đ; 1 thùng thuốc lá Ngựa bé x 9.600đ/ 1 bao = 4.800.000₫ với tổng số tiền là 270.300.000 đồng. Do T còn nợ tiền hàng thuốc lá của ông Đ từ đơn hàng trước nên ông Đ chỉ phải chuyển cho T số tiền 240.540.000 đồng. Ông Đ yêu cầu anh Nguyễn Minh H3 (con trai ông Đ) chuyển khoản số tiền 240.540.000 đồng đến tài khoản của T, ngày 05/7/2023 Anh H3 đã chuyển khoản 240.540.000 đồng tài khoản 102593316666 đến tài khoản 105867293257 của T. Tuyến không sử dụng để nhập hàng như thông tin đưa ra mà sử dụng chuyển tiền từ tài khoản 105867293257 đến tài khoản của các cá nhân khác để trả nợ, cụ thể:
Chuyển 14.800.000 đồng đến tài khoản 0982917999 của anh Ngô Ngọc C1, sinh năm 1982, trú tại Khu E, xã P, TX . P (đại lý gạo C3) để nhờ anh C1 chuyển trả tiền gạo nợ từ trước đó cho nhà phân phối Tuấn T2.
Chuyển 30 triệu đồng đến số tài khoản 101875727094 của chị Lê Thị L2, sinh năm 1968, trú tại thôn M, xã L, huyện T lấy tiền mặt để trả nợ.
Ba lần chuyển tiền đến số tài khoản 42210000006207 của chị Nguyễn Thị Hồng T3, sinh năm 1977, trú tại khu H, xã H, thị xã P với số tiền là 26.893.000 đồng để trả nợ tiền nhập gạo trước đó.
Hai lần chuyển đến tài khoản 0989557859 của ông Ma Văn T1 với số tiền 148.450.000 đồng để trả nợ cho ông T1.
Chuyển 3.750.000 đồng đến tài khoản 103875570911 của Nguyễn Thị Mỹ C2 (vợ ông T1) số tiền để trả tiền lợi nhuận như đã hứa hẹn trong đơn hàng thuốc lá.
Chuyển đến tài khoản 101874738321 của Lê Thị Hồng K2, sinh năm 1988, trú tại khu B, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọsố tiền 10 triệu đồng để trả nợ.
Đến thời điểm phải giao hàng, để ông Đ không nghi ngờ, thuận lợi cho T thực hiện hành vi lừa đảo tiếp theo, T đi vay tiền của người khác để mua 49 thùng thuốc lá Thăng L3 và 1 thùng thuốc lá Ngựa để trả cho ông Đ với tổng số tiền là 237.550.000 đồng; còn 5 thùng thuốc lá Sài G và 1 thùng thuốc lá Thăng Long tương ứng số tiền là 32.750.000 đồng thì T chiếm đoạt.
- Lần 2: Tuyến đến gặp ông Đ và lừa ông Đ đưa cho T 10 thùng thuốc lá Thăng Long x 9.770đ/ 1 bao = 48.850.000 đồng (thể hiện tại hóa đơn bán lẻ số 57) để Tuyến mang đi bán. Sau khi nhận được hàng, T mang số hàng này đi bán cho người khác lấy tiền trả nợ cá nhân (T không nhớ đã bán cho ai và số tiền bán được trả nợ cho những ai).
* Ngày 07/7/2023: Tuyến đến gặp ông Đ và lừa ông Đ đưa cho T 15 thùng thuốc lá Thăng Long x 9.700đ/ 1 bao = 72.750.000 đồng (thể hiện tại hóa đơn bán lẻ số 84) để Tuyến mang đi bán. Sau khi nhận được hàng, T mang số hàng này đi bán cho người khác lấy tiền trả nợ cá nhân (T không nhớ đã bán cho ai và số tiền bán được trả nợ cho những ai).
* Ngày 08/7/2023, T đã hai lần lừa chiếm đoạt tiền đặt mua thuốc lá của ông Đ, cụ thể:
- Lần 1: ông Đ đặt mua 3 thùng thuốc lá Ngựa x 22.400đ/ 1 bao = 33.600.000đ; 2 thùng thuốc lá Vinataba x 17.200đ = 17.200.000đ; 2 thùng thuốc lá Thăng Long mềm x 9.200đ/ 1 bao = 9.200.000đ; 1 thùng thuốc lá S x 11.200đ/ 1 bao = 5.600.000đ, tổng tiền đơn hàng này là 65.600.000 đồng. Đối với đơn hàng này, T đã giao đủ hàng cho ông Đ nhưng không yêu cầu ông Đ phải chuyển tiền mà trừ bớt vào số tiền hàng mà T còn nợ trong hóa đơn bán lẻ số 57 ngày 05/7/2023 và hóa đơn bán lẻ số 84 ngày 07/7/2023.
- Lần 2: ông Đ đặt mua 40 thùng thuốc lá Thăng Long x 9.500đ/ 1 bao = 190 triệu đồng. Tuyến trừ đi tiền khuyến mại là 450.000đ, trừ đi số tiền Tuyến còn nợ trong đơn hàng ngày 08/7/2023 (lần 1) và yêu cầu ông Đ chuyển cho T 133.550.000đ. Ngày 08/7/2023 ông Đ đưa cho T 133.550.000₫ tiền mặt. T không sử dụng số tiền này để nhập hàng giao cho ông Đ mà dùng tiền để trả cho các khoản nợ của bản thân (Tuyến không nhớ đã trả nợ cho những ai).
* Ngày 10/7/2023, T đã ba lần lừa chiếm đoạt tiền và hàng thuốc lá của ông Đ, cụ thể:
- Lần 1: Tuyến đến gặp ông Đ và lừa ông Đ đưa cho T 5 thùng thuốc lá Thăng Long x 9.700đ/ 1 bao = 24.250.000đ để Tuyến mang đi bán. Sau khi nhận được hàng, T đã mang số thuốc lá trên bán lấy tiền để trả nợ cho các khoản nợ của bản thân (Tuyến không nhớ đã bán cho ai và số tiền bán được trả nợ cho những ai).
- Lần 2: ông Đ đặt mua 40 thùng thuốc lá Thăng Long x 9.450đ/ 1 bao = 189.000.000đ; 2 thùng thuốc lá Vinataba x 17.200đ/ 1 bao = 17.200.000đ, với tổng số tiền là 206.200.000đ. Tuyến trừ đi 450.000đ khuyến mại, trừ đi 24.250.000đ tiền nợtrong đơn hàng ngày 10/7/2023 (lần 1) và bảo ông Đ phải trả cho T 181.500.000đ vào tài khoản ngân hàng của T. Ngày 10/7/2023, ông Đ yêu cầu anh Nguyễn Minh H3 chuyển khoản số tiền 181.500.000đ vào tài khoản của T.
Ngay sau khi nhận được tiền, T không sử dụng tiền để nhập hàng bán cho ông Đ mà chuyển số tiền 180.000.000₫ vào tài khoản ngân hàng số [...] của anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1992, trú tại khu N, xã H, TX. P để đổi lấy tiền mặt. T đã sử dụng số tiền mặt này để trả nợ cho các khoản nợ của cá nhân (Tuyến không nhớ đã trả nợ cho những ai).
- Lần 3: ông Đ đặt mua 5 thùng thuốc lá Ngựa x 22.4000đ/ 1 bao = 56.000.000đ, ông Đ đã đưa cho T 56.000.000 đồng tiền mặt. Sau khi nhận tiền Tuyến không sử dụng tiền để nhập hàng mà dùng để trả nợ (Tuyến không nhớ đã trả nợ cho những ai).
* Ngày 11/7/2023: Tuyến liên lạc với anh Nguyễn Minh H3 và yêu cầu anh H3 chuyển cho T 50.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của T để đặt cọc nhập hàng thuốc lá cho ông Đ, tối cùng ngày thì T sẽ giao hàng, anh H3 nói chuyện này với ông Đ và được ông Đ đồng ý. Sau đó, anh H3 đã chuyển số tiền 50 triệu đồng đến tài khoản của T. T sử dụng số tiền này để chuyển vào tài khoản của anh Nguyễn Tiến Q để đổi tiền mặt và lấy tiền để trả nợ chứ không phải để nhập hàng như hứa hẹn (T không nhớ đã trả nợ cho những ai).
* Ngày 25/7/2023, T đã hai lần lừa chiếm đoạt tiền và hàng thuốc lá của ông Đ, cụ thể:
- Lần 1: Tuyến đến gặp ông Đ và lừa ông Đ đưa cho T 10 thùng thuốc lá Thăng Long x 9.700đ/ 1 bao = 48.500.000đ và 1 thùng Ngựa x 23.150₫ = 11.575.000đ để T mang đi bán. Tổng số tiền hàng là 60.075.000đ, ông Đ trừ đi 75.000đ tiền lẻ và chỉ tính 60 triệu đồng. Sau khi nhận được hàng, T mang hàng đi bán lấy tiền trả nợ (T không nhớ đã bán cho ai và số tiền bán được trả nợ cho những ai).
- Lần 2: ông Đ đặt mua 50 thùng Thăng long x 9.450đ/ 1 bao = 236.250.000đ; 02 thùng Vinataba x 17.000đ/ 1 bao = 17.000.000₫ và 02 thùng Thăng Long mềm x 9.200đ/ 1 bao = 9.200.000đ, với tổng số tiền là 262.450.000đ. T bảo ông Đ trừ bớt 30 triệu đồng còn nợ trong đơn hàng ngày 25/7/2023 (lần 1), trừ 5.225.000đ tiền vay cá nhân từ trước và yêu cầu ông Đ chuyển cho T 227.225.000đ vào tài khoản ngân hàng của T. Ngày 25/7/2023, ông Đ yêu cầu anh Nguyễn Minh H3 chuyển số tiền 227.225.000đ vào tài khoản ngân hàng của T.
Sau khi nhận tiền, T không sử dụng tiền để nhập hàng bán cho ông Đ như hứa hẹn mà sử dụng tiền để trả nợ, cụ thể:
Chuyển khoản 70.500.000đ đến tài khoản 109898208999 của Nguyễn Thị Hồng Q1, sinh năm 1977, trú tại khu A, xã H, TP . để trả nợ.
Chuyển khoản 16.000.000₫ đến tài khoản 101874738321 của Lê Thị Hồng K2 để trả nợ.
Hai lần chuyển đến tài khoản 102005468989 của Nguyễn Tiến Q với số tiền 86.000.000₫ để đổi tiền mặt, sau đó dùng tiền mặt để trả nợ.
Chuyển 60.000.000đ đến tài khoản 0989557859 của ông Ma Văn T1 để trả nợ cho các đơn hàng thuốc lá còn nợ, chưa thanh toán.
Đến thời điểm trả hàng, vì mong muốn tiếp tục lừa chiếm đoạt tiền của ông Đ, T đã đi vay tiền của người khác nhập hàng trả cho ông Đ và lừa lấy thuốc lá của ông Ma Văn T1 để trả cho ông Đ với tổng số tiền là 119.300.000 đồng, còn số tiền hàng 107.925.000đ còn lại thì T chiếm đoạt, cụ thể:
Ngày 26/7/2023, trả 10 thùng Thăng Long x 9.450đ/ 1 bao = 47.250.000đồng và 1 thùng Viantaba x 17.000đ/ 1 bao = 8.500.000₫.
Ngày 27/7/2023, trả 10 thùng Thăng Long x 9.450đ/ 1 bao = 47.250.000đ; 01 thùng Ngựa x 22.400đ/ 1 bao = 11.200.000₫ và 01 thùng Thăng Long dẹt x 10.200đ/ 1 bao = 5.100.000đ. Trong đó có 10 thùng Thăng Long Tuyến lấy của ông Ma Văn T1 để trả cho ông Đ, T thuê anh Chu Đức D, sinh năm 1994, trú tại phố P, phường P, TX. P, tỉnh Phú Thọ đến lấy hàng giao cho con trai ông Đ là anh Nguyễn Minh H3.
Như vậy, tổng số tiền mà T đã chiếm đoạt của ông Đ đối với các đơn hàng, hóa đơn bán lẻ trên là 701.975.000 đồng (Bảy trăm linh một triệu chin trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
2. Hành vi chiếm đoạt tiền của ông Ma Văn T1, sinh năm 1972, trú tại tổ A, khu dân cư P, P. P, TX. P, tỉnh Phú Thọ:
Ngoài các phương thức, thủ đoạn chiếm đoạt tiền và hàng thuốc lá như đã nêu trên, khi ông T1 chuyển tiền cho T để đặt mua thuốc lá nhưng T không nhập hàng để giao cho ông T1, để ông T1 không nghi ngờ thì T gọi điện video qua ứng dụng Zalo hoặc chở hàng qua cửa hàng cho ông T1 nhìn thấy, nhưng không cho ông T1 kiểm đếm hàng hóa, bản chất đây chỉ là một ít hàng Tuyến ngụy trang bên ngoài cho ông T1 nhìn thấy. Để ông T1 tin tưởng và tiếp tục chuyển tiền mua hàng thì T chỉ thanh toán tiền lợi nhuận chênh lệch cho ông T1, còn tiền gốc thì T đưa ra nhiều lý do để không trả lại.
Từ tháng 9/2022 đến tháng 7/2023, ông T1 nhiều lần chuyển tiền bằng cả chuyển khoản ngân hàng và đưa tiền mặt để mua hàng cho T. Các đơn hàng T chỉ trả tiền lợi nhuận chênh lệch chứ không trả tiền gốc nhập hàng nên đến ngày 17/7/2023 ông T1 và T đã tiến hành cộng trừ cụ thể tất cả các lần ông T1 chuyển tiền để mua hàng thuốc lá, thể hiện tại 07 giấy biên nhận được đánh máy đề ngày 17/7/2023, có chữ ký và điểm chỉ của T. Cụ thể như sau:
- + Giấy biên nhận số 1: 100 thùng T cứng với giá 9.400đ/ 1 bao = 470 triệu đồng; 02 thùng với giá 23.000đ/ 1 bao = 23 triệu đồng. Tổng cộng là 493 triệu đồng.
- + Giấy biên nhận số 2: 50 thùng T cứng với giá 9.400đ/ 1 bao = 235 triệu đồng.
- + Giấy biên nhận số 3: 3 thùng S với giá 12.200đ/ 1 bao = 18.300.000đ; 3 thùng Vinataba với giá 17.300đ/ 1 bao = 25.950.000đ; 3 thùng Ngựa với giá 23.000đ/ bao = 34.500.000đ; 50 thùng T cứng với giá 9.400đ/ 1 bao = 235 triệu đồng. Tổng là 313.750.000 đồng.
- + Giấy biên nhận số 4: 40 thùng T cứng với giá 9.400đ/ 1 bao = 188 triệu đồng.
- + Giấy biên nhận số 5: 50 thùng T cứng với giá 9.400đ/ 1 bao = 235 triệu đồng.
- + Giấy biên nhận số 6: 35 thùng T cứng với giá 9.400đ/ 1 bao = 164.500.000₫.
- + Giấy biên nhận số 7: 27 thùng T cứng với giá 9.500đ/ 1 bao = 128.250.000₫.
Tổng số tiền mà T chiếm đoạt của ông T1 thể hiện trong 07 giấy biên nhận trên là 1.757.500.000 đồng.
+ Ngày 26/7/2023, T trả cho ông T1 5 thùng thuốc lá Thăng Long x 9.400đ/1 bao = 23.500.000₫.
+ Buổi tối ngày 27/7/2023, T mua 11 thùng thuốc lá của ông T1 với tổng số tiền là 80.525.000đ. Sau đó, T mang 10 thùng thuốc lá trả cho ông Nguyễn Thành Đ và bán 01 thùng cho cửa hàng của bà Trần Thị T4, SN 1960, trú tại phố P, phường P, TX. P. Tuy nhiên T không trả lại tiền hàng cho ông T1.
Tổng số tiền mà T chiếm đoạt của ông T1 là 1.814.525.000đ. Số tiền này T sử dụng để trả nợ cho những người khác, vì đã lâu nên T không nhớ đã trả cho những ai.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị T đã khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được. T khai nhận toàn bộ số tiền chiếm đoạt được của ông Nguyễn Thành Đ và Ma Văn T1 là 2.516.500.000 đồng, T đã dùng để trả nợ tiền vay của người khác.
* Ngày 15/10/2023, Cơ quan CSĐT đã tạm giữ của ông Nguyễn Thành Đ: 01 (một) tờ giấy kẻ ngang được viết bằng mực xanh, đề ngày 08/7/2023, tại mục “Người nhận tiền” có chữ ký và họ tên của Nguyễn Thị T.
* Ngày 15/10/2023, Cơ quan CSĐT đã tạm giữ các tài liệu của ông Ma Văn T1:
- 07 (bảy) giấy biên nhận được đánh máy đều đề ngày 17/7/2023, tại mục “Người nhận tiền” có chữ ký, họ tên và hình dấu điểm chỉ ngón trỏ phải bằng mực đỏ của Nguyễn Thị T.
- 01 (một) Bản ghi nhận được đánh máy, đề ngày 29/7/2023, tại mục “Người viết” có chữ ký, họ tên và hình dấu điểm chỉ ngón trỏ phải bằng mực đỏ của Nguyễn Thị T.
- 01 (một) Hợp đồng mua bán hàng hóa số 01/2023/HĐMB, đề ngày 01/7/2023, gồm 02 tờ, giữa bên mua là vợ chồng ông Ma Văn T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ C2, còn bên bán là Nguyễn Thị T; tại mục đại diện bên bán có chữ ký, họ tên và hình dấu điểm chỉ ngón trỏ phải của Nguyễn Thị T.
* Ngày 16/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh có Quyết định trưng cầu giám định số 326 đề nghị Phòng K3 Công an tỉnh giám định chữ ký, chữ viết trong các giấy tờ, tài liệu mà ông Ma Văn T1 và Nguyễn Thành Đ giao nộp.
Tại Kết luận giám định số 1439 ngày 08/11/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh P kết luận: Chữ viết, chữ ký trên các mẫu gửi đến giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị T trên Bản tự khai/tường trình ngày 24/8/2023 là do cùng một người ký và viết ra.
* Ngày 16/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh có Quyết định trưng cầu giám định số 327 đề nghị Phòng K3 Công an tỉnh giám định dấu vân tay trong các giấy tờ, tài liệu mà ông Ma Văn T1 giao nộp.
Tại Kết luận giám định số 1369 ngày 25/10/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh P kết luận: Dấu vân tay in tại các giấy tờ, tài liệu gửi đến giám định so với dấu vân tay ngón trỏ phải của Nguyễn Thị T là do cùng một người in ra.
Về tài sản: qua xác minh, bị cáo có nhà tại khu B xã B, cùng các tài sản thiết yếu.
Cáo trạng số 71/CT-VKSPT-P1 ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tuyến về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu, thể hiện thái độ ăn năn hối cải.
Tại phiên tòaông Ma Văn T1 và Nguyễn Thành Đ giữ nguyên quan điểm về bồi thường và đề nghị xử lý nghiêm minh đối với bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát có quan điểm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Nguyễn Thị T từ 13 đến 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh, điều khoản áp dụng. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ thấp hơn mức án đại diện VKS đề nghị tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
7
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đánh giá tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên; Kiểm sát viên, thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật. Người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
[2]. Phân tích chứng cứ:
Nguyễn Thị T5 có hành vi đưa ra thông tin gian dối trong việc mua bán các mặt hàng thuốc lá khiến ông Ma Văn T1 và Nguyễn Thành Đ tưởng là thật nên chuyển tiền cho T để đặt mua hàng và đưa hàng thuốc lá cho T mang đi bán. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 7/2023, T đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Thành Đ số tiền là 701.975.000đ, chiếm đoạt của ông Ma Văn T1 số tiền là 1.814.525.000đ. Tổng số tiền T chiếm đoạt của ông Đ và ông T1 là 2.516.500.000₫.
Hành vi của các bị cáo thể hiện tại biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung,kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, người liên quan, biên bản thu giữ vật chứng...và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tốbị cáo là đúng pháp luật.
Tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng vì bị cáo chiếm đoạt số tài sản lớn, từ động cơ cá nhân bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Với tính chất nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện cần có mức án nghiêm khắc.
+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu trách nhiệm tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 BLHS.
+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn H1 tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tếnên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị ngoài những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3]. Trách nhiệm dân sự:
Khoản tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại thì phải có nghĩa vụ hoàn trả.
Ông Đ chỉ yêu cầu Tuyến có trách nhiệm khắcphục trả số tiền 500.000.000đ trong tổng số tiền 701.975.000đ; ông T1 chỉ yêu cầu T khắc phục trả số tiền 1.200.000.000đ trong tổng số tiền 1.814.525.000đ. Nên cần xác nhận việc tự nguyện yêu cầu bồi thường.
[3] Quan điểm của Luật sư:
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo thể hiện quan điểm nhân đạo, có cơ sở một phần nên được chấp nhận.
8
[4] Quan điểm của đại diện VKS: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với các bị cáo như trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về hình phạt chính:
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Nguyễn Thị Tuyến13 năm 06 tháng tù(mười ba năm sáu tháng) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/12/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
[2] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự: Xác nhận sự tự nguyện của bị hại về bồi thường, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại cụ thể:
Bồi thường cho ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1954, trú tạisố nhà 81, tổ 2b, khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ số tiền 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng).
Bồi thường cho ông Ma Văn T1, sinh năm 1972, trú tại số nhà D, tổ A, khu dân cư P, phườngPhong Châu, thị xã P, tỉnh Phú Thọ 1.200.000.000₫ (một tỷ, hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[3] Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị T6 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 63.000.000 đồng án phí dân sự. Tổng là 63.200.000 đồng (Sáu mươi ba triệu, hai trăm ngàn đồng).
[4] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.
9
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Vũ |
10
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tuyến - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
