Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số:64/2024/HS-ST

Ngày:10-5-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Tư – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Châu Thành

Bà Nguyễn Thị Mai Khanh – Bí thư xã Đoàn xã Long An, huyện Châu Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc T- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:44/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:60/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ Minh T1, sinh năm 2000 tại Tiền Giang; Giới tính:Nam; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang; Số căn cước công dân [...], cấp ngày 10/5/2021; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Vũ Thành N và bà Nguyễn Thị P; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người bị hại:

  1. Nguyễn Thị Triệu T2, sinh ngày 22/5/2010.

Người đại diện: Ông Nguyễn Anh D, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Trần Thị Ngọc G - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

  1. Huỳnh Thị Kim T3, sinh ngày 26/10/2010.

Người đại diện: Ông Huỳnh Trung H, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Trần Lan A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

  1. Phạm Ngọc T4, sinh ngày 22/7/2010.

Người đại diện: Ông Phạm Văn T5, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Trương Thị Thảo P1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

  1. Nguyễn Ngọc Kim N1, sinh ngày 01/4/2010.

Người đại diện: Bà Võ Thị Mộng T6, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Bùi Thị Khánh T7 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1974 (có mặt).

Trú tại: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng thời gian từ ngày 02/10/2023 đến 28/10/2023 tại ấp T, ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 đã có hành vi dùng tay sờ vào phần mông của các em gái nữ sinh của Trường Trung học cơ sở T8 rồi bỏ chạy. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 02/10/2023, T1 điều khiển xe 63B8-200.18 chờ dưới cầu vượt số 9 thì nhìn thấy em Nguyễn Thị Triệu T2 điều khiển xe đạp điện trên đường 39B hướng Long An - T. T1 điều khiển xe chạy theo sau, đến khu vực vắng người thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì T1 điều khiển xe chạy vượt lên chạy song song về bên trái của em T2. T1 đưa tay phải sờ vào mông trái của T2 1 cái rồi điều khiển xe chạy về hướng xã T.

Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 02/10/2023, sau khi đã thực hiện hành vi sờ mông em T2 thì T1 điều khiển xe quay lại khu vực cầu vượt số 9 đứng chờ. T1 nhìn thấy em Huỳnh Thị Kim T3 điều khiển xe đạp điện hướng Long An-T, T1 cũng điều khiển xe chạy theo, đến khu vực vắng người thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì T1 dùng tay phải sờ vào mông trái của T3 rồi điều khiển xe chạy đi.

Lần thứ ba: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 21/10/2023, T1 điều khiển xe 63B8-200.18 chờ dưới cầu vượt số 9 thì nhìn thấy em Nguyễn Ngọc Kim N1 điều khiển xe đạp điện trên đường 39B hướng Long An-T. T1 điều khiển xe chạy theo, khi đến khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang T1 dùng tay phải sờ vào mông trái của em N1 01 cái rồi điều khiển xe chạy đi

Lần thứ tư: Khoảng 12 giờ ngày 26/10/2023, T1 điều khiển xe 63B8-200.18 chờ dưới cầu vượt số 9 thì nhìn thấy em Phạm Ngọc T4 điều khiển xe đạp điện trên đường 39B hướng Long An-T. T1 điều khiển xe chạy theo khi đến khu vực ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, T1 dùng tay phải sờ vào mông trái của em T4 01 cái rồi điều khiển xe chạy đi

Lần thứ năm: Cũng với hành vi như trên, vào khoảng 12 giờ ngày 28/10/2023, T1 tiếp tục có hành vi sờ mông em T4 lần thứ hai tại khu vực ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Vật chứng, đồ vật thu giữ, xử lý:

  • 01 (một) điện thoại di động Oppo, màu xanh, mặt lưng dán màu ánh bạc. Đây là tài sản của cá nhân của T1, không liên quan đến vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo.
  • 01 (một) xe mô tô Yamaha Exciter, màu xám đen số khung RLCUG0610JY725159 số máy G3D4E753988, biển số 63B8-200.18; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 63000409 biển số 63B8-200.18 tên Nguyễn Vũ Minh T1; 01 (một) áo thun ngắn tay màu nâu, cổ áo viền màu trắng; 01 (một) áo khoác dài tay bằng vải dù màu đen; 01 (một) quần jean màu xanh, dài 42 cm và 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng có hoa văn đen rải rác, mũi nón màu đen. Hiện đang tạm giữ, chờ xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần cho các bị hại Nguyễn Ngọc Kim N1 1.000.000đồng, Phạm Ngọc T4 1.000.000đồng, Nguyễn Thị Triệu T2 1.000.000đồng. Bị hại Huỳnh Thị Kim T3 cùng người đại diện không yêu cầu bồi thường.

* Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSCT ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát công bố.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cùng nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 146; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, thiệt hại thực tế xảy ra, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền được bảo vệ sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của các bị hại, làm ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng đến quá trình phát triển bình thường và nhân cách của các bị hại sau này nên cần có mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 khai nhận, vào khoảng thời gian từ ngày 02/10/2023 đến 28/10/2023 tại ấp T, ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang bị cáo đã có hành vi 05 lần dùng tay tiếp xúc (sờ/bóp) gián tiếp qua lớp quần vào phần mông trái của các bị hại Nguyễn Thị Triệu T2, Huỳnh Thị Kim T3, Phạm Ngọc T4 và Nguyễn Ngọc Kim N1 là những nữ sinh của Trường Trung học cơ sở T8 khi các nữ sinh này chưa đủ 16 tuổi với mục đích thỏa mãn sở thích cá nhân nhưng không nhằm mục đích giao cấu và quan hệ tình dục khác. Trong đó, có 02 lần bị cáo dùng tay tiếp xúc (sờ/bóp) mông đối với T4. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, các vật chứng khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp cáo trạng truy tố cũng như kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được bảo vệ sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được bị hại là trẻ em, ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện và thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 đã có đủ yếu tố cấu thành tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 phạm tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được bảo vệ sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục, gây tâm lý ức chế ảnh hưởng đến quá trình phát triển bình thường và nhân cách của bị hại sau này. Hành vi này chẳng những gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội mà còn gây bức xúc trong dư luận tại nơi xảy ra tội phạm. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo và để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã biết ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại, đại diện bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về vật chứng:

Xét các vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã xử lý là đúng quy định pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số hiệu Yamaha, loại Exciter màu xám đen, số khung RLCUG0610JY725159, số máy G3D4E753988, biển số 63B8-200.18; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 63000409 của xe biển số 63B8-200.18 đứng tên Nguyễn Vũ Minh T1 là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 (một) áo thun ngắn tay màu nâu, cổ áo viền màu trắng; 01 (một) áo khoác dài tay bằng vải dù màu đen; 01 (một) quần jean màu xanh, dài 42 cm và 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng có hoa văn đen rải rác, mũi nón màu đen là tài sản của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại và bị cáo đã thống nhất thỏa thuận việc bồi thường, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 phạm tội: "Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi".

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 146; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Minh T1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 01/12/2023.

  1. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số hiệu Yamaha, loại Exciter màu xám đen, số khung RLCUG0610JY725159, số máy G3D4E753988, biển số 63B8-200.18; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 63000409 của xe biển số 63B8-200.18 đứng tên Nguyễn Vũ Minh T1.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo thun ngắn tay màu nâu, cổ áo viền trắng; 01 (một) áo khoác dài tay vải dù màu đen; 01 (một) quần jean màu xanh, dài 42 cm và 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng có hoa văn đen rải rác, mũi nón màu đen.

Vật chứng, tài sản do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2024.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TG;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - CC.THADS huyện Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Kim Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm (dâm ô đối với người dưới 16 tuổi)

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vũ Minh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger