Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày: 05/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tấn Quốc và ông Trần Văn Cường;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 24/3/2006 tại tỉnh Quảng Trị; số CCCD: [...], do Cục C về TTXH- Bộ C1 cấp; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1976) và bà Trần Thị T2 (sinh năm 1981); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình tại Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, học văn hoá đến lớp 8 thì nghỉ. Từ tháng 12/2022 vào sinh sống tại tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/3/2024, đến ngày 15/6/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bắt tạm giam về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H. Có mặt.

Bị hại: Anh Trần Minh T3, sinh năm 1977, địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1981; Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, đều có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Trần Thị T2, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
  • + Anh Trần Viết B, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • + Ông Bùi P, sinh năm 1967; địa chỉ: Số B T, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Ngọc B1, sinh năm 1979; Địa chỉ: G C, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối năm 2022, anh Trần Minh T3, sinh năm 1977 (anh T3 tự khai nhận mình là tu sĩ, tu tại gia), có đưa bị cáo Nguyễn Minh T về ở cùng nhà với mình (tịnh thất), tại tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, để giúp anh T3 việc nhà.

Trước khi đưa T về, anh T3 có đưa số vàng đã tích góp nhiều năm ra để kiểm đếm gồm: 02 miếng vàng lá loại vàng SJC-24K, trọng lượng mỗi miếng là 01 lượng vàng; 01 vòng vàng khâu, loại 9999-24K, trọng lượng 05 chỉ; 19 vòng vàng khâu, loại 9999-24K, trọng lượng mỗi khâu 02 chỉ; 13 vòng vàng khâu, loại 9999-24K, trọng lượng mỗi khâu 01 chỉ (tổng là 7,6 cây vàng). Sau khi kiểm tra xong, anh T3 ghi đặc điểm của vàng và số lượng vàng nêu trên vào mặt sau của một tờ giấy rồi ký tên bên dưới, sau đó bỏ vàng cùng tờ giấy thống kê này vào túi vải màu đỏ ghi dòng chữ màu vàng “Lực Ngọc Thanh”, để trong hộp giấy màu đỏ có in nổi dòng chữ “DAMUZHI”, rồi bỏ tất cả vào trong két sắt.

Sau đó, T về ở cùng với anh T3 (từ tháng 11/2022), quá trình sinh sống, T biết được anh T3 có vàng để trong két sắt tại phòng ngủ và két sắt anh T3 có khoá nhưng chìa khoá vẫn cắm tại ổ khoá của két sắt; nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của anh T3. Để thực hiện được hành vi trộm cắp, T chờ đến khi anh T3 vắng nhà, lén lút vào phòng ngủ, mở két sắt lấy trộm vàng và mỗi lần T lấy trộm một ít để tránh bị phát hiện.

Với phương pháp và thủ đoạn trên, trong thời gian từ ngày 20/02/2023 đến ngày 06/9/2023, T đã nhiều lần lấy trộm vàng của anh T3 như sau:

Lần thứ nhất: Vào ngày 20/02/2023, T đột nhập vào phòng ngủ của anh T3, mở két sắt, lấy trộm 01 miếng vàng thẻ và 01 nắm nhẫn vàng loại vàng khâu (T không nhớ rõ bao nhiêu khâu), rồi đưa đi cất giấu. Đến trưa ngày 23/02/2023, T đem toàn bộ số vàng lấy trộm được nói trên, đến tiệm V, ở đường P, thành phố H, để bán (tiệm vàng Minh Đ, do bà Nguyễn Thị Ngọc B1, sinh năm 1979 làm chủ). Sau khi bà B1 kiểm tra vàng thì T biết toàn bộ vàng lấy trộm được đều là vàng 9999-24K, gồm: 01 miếng vàng thẻ loại vàng SJC-24K trọng lượng 01 lượng; 01 nhẫn vàng khâu trọng lượng 05 chỉ và nhiều nhẫn vàng khâu khác T không nhớ rõ trọng lượng, chỉ biết tổng số tiền bán vàng là 140.000.000 đồng. Số tiền này T yêu cầu bà B1 chuyển khoản nên bà B1 đã nhờ anh Bùi P, sinh năm 1967, trú tại số nhà B đường T, thành phố H; chuyển số tiền 140.000.000 đồng vào tài khoản số: [...], mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 - Chi nhánh T6, đứng tên Nguyễn Minh T.

Số tiền bán vàng nói trên, T tiêu xài cá nhân hết, số tiền còn lại 35.000.000 đồng, T gửi cho bà Trần Thị T2, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị (mẹ ruột của T ), cất giữ giúp T.

Lần thứ hai: Vào ngày 12/4/2023, T đột nhập vào phòng ngủ của anh T3, mở két sắt, lấy trộm 03 nhẫn vàng khâu loại 9999-24K, trọng lượng mỗi chiếc 02 chỉ và 02 nhẫn vàng khâu loại 9999-24K, trọng lượng mỗi chiếc 01 chỉ; đến trưa cùng ngày, T nhờ anh Trần Viết B, sinh năm 2006, trú tại phường H, thành phố H, chở đến tiệm V1, ở chợ Đ1, thành phố H (do ông Võ Quang T4, sinh năm 1988, là nhân viên đứng quầy); bán với số tiền 43.000.000 đồng. T gửi cho bà Trần Thị T2 nhờ giữ giúp số tiền 38.000.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ ba: Vào ngày 10/6/2023, T đột nhập vào phòng ngủ của anh T3, mở két sắt, lấy trộm 03 nhẫn vàng khâu loại 9999-24K, trọng lượng mỗi chiếc 02 chỉ và 02 nhẫn vàng khâu loại 9999-24K, trọng lượng mỗi chiếc 01 chỉ. Đến ngày 14/6/2023, T đem 02 nhẫn vàng khâu, trọng lượng mối chiếc 02 chỉ đến tiệm V2, ở chợ B3, thành phố H (do bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1978 làm chủ) bán với số tiền 21.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết, đến ngày 20/6/2023, T đem 01 nhẫn vàng khâu, trọng lượng 02 chỉ đến tiệm V1, ở chợ A1, thành phố H (do bà Trần Duy Hoàng N1, sinh năm 1993 làm chủ), bán với số tiền 10.600.000 đồng, rồi tiêu xài cá nhân hết; đến cuối tháng 6/2023, T đi ra thành phố Hà Nội, bán 02 nhẫn vàng khâu loại 9999-24K, trọng lượng mỗi chiếc 01 chỉ cho một tiệm vàng không nhớ địa chỉ tại thành phố Hà Nội, với giá 10.500.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ tư: Vào ngày 06/9/2023, T đột nhập vào phòng ngủ của anh T3, mở két sắt, lấy cả hộp giấy màu đỏ có in nỗi dòng chữ “DAMUZHI, sau đó đưa về phòng của mình kiểm tra, thấy bên trong hộp có 01 túi vải màu đỏ (các lần trước T đều lấy trộm vàng trong hộp giày và túi vải này), mở túi vải ra kiểm tra bên trong T thấy còn lại 01 miếng vàng thẻ loại SJC-24K trọng lượng 01 lượng và nhiều nhẫn vàng khâu khác không nhớ rõ; cùng 01 tờ giấy ghi thống kê số lượng và bên dưới có ký tên của Trần Minh T3. T để hộp giấy, túi vải và tờ giấy ghi số lượng vàng trong ngăn kéo tại phòng ngủ của mình, còn vàng T đem đến tiệm V3, ở chợ B3, thành phố H (do bà Tôn Nữ Thị Q, sinh năm 1950 làm chủ), để bán. Tại đây, T biết được 01 thẻ vàng trọng lượng 01 lượng là vàng SJC-24K, tất cả các nhẫn vàng khâu đều là loại vàng 9999-24K nhưng T không nhớ số lượng là bao nhiêu; tổng số tiền bán được vàng là 161.500.000 đồng. Số tiền bán vàng lần này, T trả nợ 10.000.000 đồng cho anh trai của T là anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; gửi cho mẹ là bà T2 số tiền 50.000.000 đồng. Sau đó, T lấy lại tiền từ bà T2 để mua xe mô tô BKS: 74H1-363.70 và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nói trên.

Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu sơn đen, vàng, BKS: 74H1-363.70, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Minh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, màu đồng có gắn sim số: 0815016224; 02 chìa khoá kim loại, kích thước 4 cen ti mét x 2 cen ti mét; 01 hộp giấy màu đỏ, kích thước 9 cen ti mét x 9 cen ti mét x 2,5 cen ti mét, trên bề mặt có in nỗi dòng chữ DAMUZHI; 01 túi vải màu đỏ ghi dòng chữ màu vàng “Lực Ngọc T5”; 01 giấy đảm bảo của tiệm V4 Bòn ngày 03/02/2016, mặt sau tờ giấy đảm bảo là bản thống kê số lượng vàng và chữ ký của anh Trần Minh T3.

Hiện các vật chứng nói trên đang được bảo quản tại kho vật chứng theo đúng quy định của pháp luật. Riêng số vàng mà T chiếm đoạt của anh T3, Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Ngày 27/02/2024, Cơ quan điều tra đã cung cấp hồ sơ, tài liệu về tài sản và ra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H (yêu cầu số: 323/YC-ĐCSHS), tiến hành định giá tài sản. Cùng ngày Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H, có văn bản số: 02/HĐĐG, trả lời: “từ chối thực hiện do không có các hồ sơ liên quan đến việc giám định tài sản (kim loại vàng), để Hội đồng có cơ sở tiến hành định giá”. Ngày 13/5/2024, Cơ quan điều tra tiếp tục cung cấp hồ sơ, tài liệu về tài sản và ra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh T, tiến hành định giá tài sản (yêu cầu số: 758/YC-ĐCSHS). Ngày 22/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh T, có văn bản số: 1643/HĐĐGTS, trả lời: "... nội dung yêu cầu định giá của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H liên quan đến thẩm quyền của Hội đồng định giá cấp huyện...”.

Do vật chứng là vàng không thu giữ được nên không tiến hành giám định và định giá được tài sản. Nên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Vào các ngày 20/02/2023, 12/4/2023, 10/6/2023 và 06/9/2023, Nguyễn Minh T đã trộm cắp tài sản của anh Trần Minh T3, tổng số vàng gồm: 02 miếng vàng lá loại vàng SJC-24K, trọng lượng mỗi miếng là 01 lượng vàng; 01 vòng vàng khâu, loại 9999-24K, trọng lượng 05 chỉ; 19 vòng vàng khâu, loại 9999-24K, trọng lượng mỗi khâu 02 chỉ; 13 vòng vàng khâu, loại 9999-24K, trọng lượng mỗi khâu 01 chỉ; tổng trị giá là: 386.600.000 đồng (theo giá mua bán vàng các cơ quan chức năng cung cấp tại thời điểm phạm tội).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng gia đình (bà Trần Thị T2), đã bồi thường cho anh Trần Minh T3, tổng số tiền là 230.000.000 đồng và 16 chỉ vàng loại vàng 9999-24K; anh T3 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đã có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKS-HTh ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T, về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu sơn đen, vàng, BKS: 74H1-363.70, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Minh T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, màu đồng có gắn sim số: 0815016224.
  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 chìa khoá kim loại, kích thước 4 cen ti mét x 2 cen ti mét; 01 hộp giấy màu đỏ, kích thước 9 cen ti mét x 9 cen ti mét x 2,5 cen ti mét, trên bề mặt có in nỗi dòng chữ DAMUZHI; 01 túi vải màu đỏ ghi dòng chữ màu vàng “Lực Ngọc T5"; 01 giấy đảm bảo của tiệm V4 Bòn ngày 03/02/2016, mặt sau tờ giấy đảm bảo là bản thống kê số lượng vàng và chữ ký của anh Trần Minh T3.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Bị hại, người làm chứng vắng mặt. Xét việc vắng mặt không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/02/2023 đến ngày 06/9/2023, tại tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nguyễn Minh T đã có hành vi nhiều lần (04 lần), trộm cắp tài sản của anh Trần Minh T3, gồm: 02 miếng vàng lá loại vàng SJC-24K, trọng lượng mỗi miếng là 01 lượng vàng; 01 vòng vàng khâu, loại 9999-24K, trọng lượng 05 chỉ; 19 vòng vàng khâu, loại 9999-24K, trọng lượng mỗi khâu 02 chỉ; 13 vòng vàng khâu, loại 9999-24K, trọng lượng mỗi khâu 01 chỉ. Tài sản chiếm đoạt có tổng trị giá là 386.600.000 đồng (ba trăm tám mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) nên hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo Nguyễn Minh T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Minh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì tham lam nên bị cáo vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đã gây ra.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Minh T có nhân thân tốt.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: “Tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.

Quan điểm của Kiểm sát viên là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh T là có căn cứ pháp luật.

[6] Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt với mức tương xứng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T là nguy hiểm. Vì vậy, cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung. Bị cáo hiện không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung. Bị cáo phạm tội khi đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Đối với bà Trần Thị T2 và anh Nguyễn Tuấn A; đều không biết số tiền mà bị cáo Nguyễn Minh T, nhờ cất giữ, trả nợ; là tiền do phạm tội mà có nên không xử lý.

Đối với bà Nguyễn Thị Ngọc B1, anh Bùi P; đều không biết tài sản (vàng), mình đã mua bán là do phạm tội mà có nên không xử lý.

Đối với bốn chủ tiệm V1, ở chợ Đ1 và ở chợ A1, thành phố H; Duy L và Bến Ngự B2, ở chợ B3, thành phố H đều khai nhận: do tiệm vàng của mình có lượng khách đến mua bán vàng đông và thời gian đã lâu nên không nhớ được việc ai đã đến tại tiệm của mình để mua bán vàng. Do đó không có cơ sở để xem xét, xử lý, đối với những chủ tiệm mua bán vàng này.

Đối với anh Trần Viết B, đã chở bị cáo Nguyễn Minh T đến chợ Đ1, thành phố H để bán vàng; anh B không biết số vàng mà bị cáo bán là do phạm tội mà có nên không xử lý.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Minh T và gia đình đã bồi thường cho anh Trần Minh T3, tổng số tiền là 230.000.000 đồng và 16 chỉ vàng loại vàng 9999-24K; anh T3 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đã có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu sơn đen, vàng, BKS: 74H1-363.70, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Minh T là tài sản do phạm tội mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, màu đồng có gắn sim số: 0815016224 là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Đối với 02 chìa khoá kim loại, kích thước 4 cen ti mét x 2 cen ti mét; 01 hộp giấy màu đỏ, kích thước 9 cen ti mét x 9 cen ti mét x 2,5 cen ti mét, trên bề mặt có in nỗi dòng chữ DAMUZHI; 01 túi vải màu đỏ ghi dòng chữ màu vàng “Lực Ngọc T5”; 01 giấy đảm bảo của tiệm V4 Bòn ngày 03/02/2016, mặt sau tờ giấy đảm bảo là bản thống kê số lượng vàng và chữ ký của anh Trần Minh T3. Đây là tài sản của anh T3, nhưng anh T3 không yêu cầu được nhận lại và xét thấy các tài sản trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu sơn đen, vàng, BKS: 74H1-363.70, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Minh T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, màu đồng có gắn sim số: 0815016224.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 02 chìa khoá kim loại; 01 hộp giấy màu đỏ, kích thước 9 cen ti mét x 9 cen ti mét x 2,5 cen ti mét,; 01 túi vải màu đỏ ghi dòng chữ màu vàng “Lực Ngọc T5”; 01 giấy đảm bảo của tiệm V4 Bòn ngày 03/02/2016, mặt sau tờ giấy đảm bảo là bản thống kê số lượng vàng và chữ ký của anh Trần Minh T3.

    Vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu là 200.000 đồng.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Huế;
  • - VKSND Thành phố Huế
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tx Hương Thủy;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger