Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 64/2024/HS-PT

Ngày 27/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Trọng.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương và ông Phạm Trung Thực.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Như Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 27/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/HSPT ngày 17/10/2024 đối với bị cáo Đinh Văn T và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:

  1. Đinh Văn T, sinh ngày 31/11/2004; Nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không ; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đinh Bá L1 (đã chết) và bà Trần Thị N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Đinh Xuân H, sinh ngày 06/4/2005; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không ; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đinh Xuân H1 và bà Nguyễn Thị H2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Đề nghị xét xử vắng mặt.
  3. Cao Thành L, sinh ngày 11/02/2005; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không ; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố (Không rõ); Họ tên mẹ: Cao Thị Minh N1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2021, Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Vắng mặt.
  1. Đỗ Hồng N2, sinh ngày 31/10/2006; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không ; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 11/12 ; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đỗ Văn H3 và bà Ngô Thị T2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 07/7/2023, Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Nhân thân: Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Hồng N2: Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1986 (mẹ của bị cáo): Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Đều có mặt.

  2. Phan Thanh B, sinh ngày 16/10/2006; Nơi cư trú: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không ; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phan Văn N3 và bà Vi Thị N4; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phan Thanh B: Bà Vi Thị N4, sinh năm 1984 (mẹ của bị cáo); Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Đều có mặt.

  3. Đặng Trung T3, sinh ngày 11/8/2006; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đặng Quang L1 và bà Trần Thị T4; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đặng Trung T3: Bà Trần Thị T4, sinh năm 1973 (mẹ của bị cáo): Trú tại: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Đều có mặt.

  4. Đỗ Văn T5, sinh ngày 16/6/2007; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không ; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đỗ Văn H4 và bà Đỗ Thị H5; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Văn T5: Bà Đỗ Thị H5, sinh năm 1980 (mẹ của bị cáo); Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Đều có mặt.

  5. Nguyễn Khánh D, sinh ngày 20/3/2007; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị P; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Khánh D: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1979 (bố của bị cáo); Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Đều có mặt.

  6. Nguyễn Văn K1, sinh ngày 21/9/2006; Nơi cư trú: Thôn G, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không ; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị N5; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Đề nghị xét xử vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn K1: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967 (bố của bị cáo); Địa chỉ: Thôn G, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

  7. Nguyễn Gia H6, sinh ngày 05/4/2007; Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn H7 và bà Đặng Thị T6; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Gia H6: Ông Nguyễn Văn H7, sinh năm 1984 (bố của bị cáo); Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

  8. Trần Hoàng A, sinh ngày 20/11/2006; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị L2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Hoàng A: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1981 (bố của bị cáo) – có mặt: Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

  9. Nguyễn Bùi Tuấn K2, sinh ngày 24/10/2006; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Bá L3 và bà Bùi Thị Hải D1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Đề nghị xét xử vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Bùi Tuấn K2 : Ông Nguyễn Bá L3, sinh năm 1982 (bố của bị cáo) – có mặt: Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Người bào chữa:

  1. Bà Nguyễn Thị D2 – Luật sư – Đoàn Luật sư tỉnh H, bào chữa cho bị cáo Đặng Trung T3 và Đỗ Văn T5. Đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bà Phạm Thị T7 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H, bào chữa cho bị cáo Nguyên Gia H6. Có mặt.
  3. Bà Lê Thị Thanh H8 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H, bào chữa cho bị cáo Phan Thanh B và Đỗ Hồng N2. Có mặt.
  4. Bà Đỗ Minh Á - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh D và Nguyễn Văn K1. Có mặt.
  5. Bà Nguyễn Thị T8 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H, bào chữa cho bị cáo Trần Hoàng A và Nguyễn Bùi Tuấn K2. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 08/7/2023, Đỗ Khánh L4 sinh ngày 29/9/2007 ở thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên cùng Đỗ Hồng N2 sinh ngày 31/10/2006 ở thôn Đ, xã Đ, huyện V; Đỗ Văn T5 sinh ngày 16/6/2007 ở thôn N, xã T, huyện V; Bùi Duy B1 sinh ngày 11/8/2007 ở thôn N, xã T, huyện V đến Nhà V thôn N, thị trấn N, huyện V chơi. Tại đây, Khánh L4 rủ mọi người chiều đi mua lưỡi dao bầu, tuýp sắt thuê hàn thành phóng lợn để tối đi diễu hành trên đường, thì cả nhóm đồng ý. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/7/2023, N2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 89F1-337.94 chở Nguyễn Gia H6 sinh ngày 05/4/2007 ở thôn C, xã L, huyện V và K đi từ nhà Khánh L4 đến Nhà văn hóa thôn B, xã T thì gặp Bùi Duy B1 sinh ngày 11/8/2007 ở thôn N, xã T, huyện V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ (không đeo biển số) đi một mình, Khánh L4 rủ B1 đi cùng thì B1 đồng ý, Khánh L4 đi sang xe Biển ngồi phía sau rồi 04 người đi 02 xe mô tô đến cửa hàng bán sắt thép của gia đình ông Đỗ Văn Bình S năm 1957 ở thôn T, xã Đ, huyện V. Khánh Long trực tiếp bỏ tiền ra mua 03 thanh tuýp sắt, mỗi thanh dài 6m với tổng số tiền 225.000 đồng rồi nhờ ông B cắt, hàn thành 08 thanh ngắn mỗi thanh dài từ 2 đến 2,5m. Sau khi hàn xong, Khánh L4 bê 08 thanh sắt để lên xe mô tô do B1 chở rồi cả nhóm đi về cất các thanh sắt ở Nhà văn hóa thôn N, thị trấn N, huyện V. Sau đó cả nhóm đi đến gần quán bán hàng của anh Hoàng Văn Y sinh năm 1972 ở thôn B, xã T, huyện V thì dừng lại, một mình N2 đi vào trong quán hỏi mua 07 con dao bầu với tổng số tiền 350.000 đồng. Mua dao xong cả nhóm lại quay về Nhà văn hóa đội 15 thôn N để lấy các thanh tuýp sắt đã cất ở đó từ trước rồi mang đến cửa hàng cơ khí của anh Đỗ Tiến D3 sinh năm 1983, ở thôn Đ, xã Đ, huyện V thuê hàn 07 dao bầu vào 07 thanh tuýp sắt (thành phóng lợn) với giá thuê hàn hết 100.000 đồng (L4 là người trả tiền). Làm xong phóng lợn thì Khánh L4, H12, B1, N2 mang số phóng lợn này về cất ở Nhà V thôn N rồi ai đi về nhà người đó. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày 08/7/2023, B1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ không có biển số chở Khánh L4 đến quán Internet Xã Đ thì gặp: Đỗ Hồng N2, Đỗ Văn T5, Hoàng Quốc T9 sinh ngày 10/7/2008 ở thôn T, xã K, huyện G, TP Hà Nội (hiện đang ở tại thôn N, xã T, huyện V), Phạm Văn H9 sinh ngày 08/10/2007 ở thôn H, xã L, huyện V, C sinh ngày 01/01/2008, Nguyễn Bùi Tuấn K2 sinh ngày 24/10/2006 và Bạch Trường G sinh ngày 15/10/2007 đều ở thôn N, xã T, huyện V, Phan Thanh B, sinh ngày 16/10/2006 ở thôn N, thị trấn N, huyện V, Đặng Trung T3 sinh ngày 11/8/2006 và Cao Thành L sinh ngày 11/02/2005 đều ở thôn B, xã T, huyện V. Đinh Văn T sinh ngày 30/11/2004, Đinh Xuân Hiếu sinh ngày 06/4/2005, Phùng Nhật M sinh ngày 05/11/2007, Bùi Quốc B2 sinh ngày 02/11/2006, Đinh Mạnh H10 sinh ngày 07/12/2006, Bùi Anh T10 sinh ngày 26/12/2005 đều ở thôn N, xã T, huyện V. Nguyễn Văn K1 sinh ngày 21/9/2006 ở thôn G, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Khánh D sinh ngày 20/3/2007 ở thôn N, xã Đ, huyện V. Trần Hoàng A sinh ngày 20/11/2006 ở thôn N, xã T, huyện V. Nguyễn Gia H6 sinh ngày 05/4/2007 ở thôn C, xã L, huyện V. Đinh Mạnh H10 sinh ngày 07/12/2006 ở thôn N, xã T, huyện V. Hoàng Quang T11 sinh ngày 02/12/2006 ở Khu B tập thể Địa chất, xã T, huyện V. Nguyễn Quang D4 sinh ngày 31/12/2007 ở thôn T, xã L, huyện V và Nguyễn Quang H11 sinh ngày 05/11/2007 ở thôn N, xã L, huyện V. Thấy đông người tập trung, Khánh L4 rủ cả nhóm điều khiển xe mô tô mang theo hung khí đi lượn trên đường nếu thấy ai có biểu hiện, hành vi nhìn ngứa mắt thì đánh, cả nhóm đồng ý. Khánh L4 bảo mọi người tháo biển số xe ra cất đi để tránh bị phát hiện, nếu xe nào không tháo biển số thì dùng khẩu trang che lại, tất cả làm theo. Sau đó Phạm Văn H9 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda kiểu dáng Airblade, màu sơn đen (không có biển số, là xe của Nguyễn Quang H11) chở Phùng Nhật M và Nguyễn Quang H11. Cao Lê Hoàng H12 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 89L1-396.31 (là xe của K2) chở Đỗ Khánh L4 (L4 đã tháo biển số xe cất vào cốp). Đinh Mạnh H10 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 89L1-388.43 (là xe của H10) chở Hoàng Quang T11 (H10 dùng khẩu trang che biển số). Bùi Anh T10 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu tím, biển số 89L1-417.16 (là xe của B2) chở Bùi Quốc B2. Đặng Trung T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 20H8-2795 (là xe của T3 mượn của ông Mai Thế A1, sinh năm 1977 ở B, xã T, huyện V) chở Phan Thanh B. Cao Thành L điều khiển xe mô tô nhãn Honda Wave, màu đỏ, biển số 89B1-548.81 (là xe của mẹ L) đi một mình và tự tháo biển số cất vào cốp. Nguyễn Quang D4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 89L1-411.60 (xe của D4) chở Bạch Trường G (G lấy tờ giấy quảng cáo dán trên cột điện dán vào biển số xe để che lại). Nguyễn Gia H6 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 89L1 - 414.16 (là xe của D) chở Nguyễn Khánh D (D tháo biển số cất vào cốp xe). Trần Hoàng A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda kiểu dáng AirBlade, biển số 89N6-1529 (là xe của mẹ Hoàng A) chở Nguyễn Văn K1 (Hoàng A dùng khẩu trang che biển số). Đỗ Hồng N2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, biển số 89L1-408.07 (xe của T5) chở Đỗ Văn T5 và Nguyễn Bùi Tuấn K2 (Trà lấy tờ giấy quảng cáo dán trên cột điện dán vào biển số che lại). Bùi Duy B1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, không biển số (là xe của B1) chở Hoàng Quốc T9. Đinh Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, biển số 89L1-408.38 (là xe của T) chở Đinh Xuân H (H dùng khẩu trang che biển số). Sau khi tháo và che biển số xong, Khánh L4 dẫn đầu cả nhóm đi đến đầu xóm Đ, thôn N, thị trấn N, huyện V thì bảo mọi người dừng lại đợi để Khánh L4 đi lấy phóng lợn và tuýp sắt. Khánh L4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen biển kiểm soát 89L1 - 396.31 chở T9. H9 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu xanh đen chở Nguyễn Quang H11 và Phùng Nhật M đi vào Nhà văn hóa thôn N6 lấy 07 phóng lợn và 01 tuýp sắt cất giấu từ trước mang ra chia cho cả nhóm. Sau đó các xe đi như sau:

Cao Lê Hoàng H12 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 89L1-396.31 chở Đỗ Khánh L4 ngồi sau cầm cầm theo 01 phóng lợn. Phạm Văn H9 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đen chở Phùng Nhật M, Nguyễn Quang H11 ngồi sau cầm 01 tuýp sắt và 02 phóng lợn. Đinh Mạnh H10 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 89L1-388.43 chở Hoàng Quang T11 không cầm theo đồ vật gì. Bùi Anh T10 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave, màu tím, biển số 89L1-417.16 chở Bùi Quốc B2 không cầm gì. Đặng Trung T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 20H8-2795 chở Phan Thanh B cầm theo 01 phóng lợn. Cao Thành L điều khiển xe mô tô nhãn nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số 89B1-548.81 đi một mình không cầm gì. Nguyễn Quang D4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 89L1-411.60 chở Bạch Trường G không cầm gì. Nguyễn Gia H6 điều khiển xe nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 89L1 - 414.16 chở Nguyễn Khánh D không cầm gì. Trần Hoàng A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số 89N6-1529 chở Nguyễn Tiến K3 không cầm gì. Đỗ Hồng N2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, biển số 89L1 - 408.07chở Nguyễn Bùi Tuấn K2 và Đỗ Văn T5 cầm theo phóng 01 lợn (T5 cầm). Bùi Duy B1 điều khiển xe nhãn hiệu Honda Wave không biển số chở Hoàng Quốc T9 cầm 01 phóng lợn. Đinh Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, biển số 89L1-408.38 chở Đinh Xuân H cầm 01 phóng lợn.

Thấy nhóm của Khánh L4 mang theo hung khí đi trên đường, sợ sẽ bị bắt nên Bùi Quốc B2 rủ Bùi Anh T10, Hoàng Quang T11, Đinh Mạnh H10 không đi cùng mọi người nữa mà đi chơi thì T10, T11 và H10 đồng ý. 04 người dừng xe lại đợi cho xe của nhóm K4 đi khoảng 200m khoảng 05 phút sau mới bắt đầu điều khiển xe mô tô đi lên khu đô thị V thuộc huyện G, thành phố Hà Nội để chơi.

Nhóm của Khánh L4 điều khiển xe mô tô đi ra Quốc lộ E chiều đường H - Hà Nội, khi đi trên đường thì cả nhóm rú ga, bấm còi, đi vận tốc nhanh, những người cầm phóng lợn và tuýp sắt dơ lên cao khua khiến người dân đi đường sợ hãi. Cả nhóm đi đến xã P, huyện G, thành phố Hà Nội thì đi vòng lên cầu vượt Quốc lộ E rẽ vào khu đô thị V, đi tiếp sang khu đô thị E, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, G, D4, Hoàng A, K2 bỏ về không đi cùng nữa. Những người còn lại tiếp tục đi vào khu đô thị E rồi đi lên quận L, thành phố Hà Nội. Khi đến khu vực phường P, quận L, Đỗ Khánh L4 đã sử dụng phóng lợn chém gây thương tích cho một người đi đường rồi cả nhóm quay về Quốc lộ E chiều Hà Nội-Hải Phòng để về huyện V. Khi về đến huyện V thì Quang H11, M, B1, T9, H9, Thành L, K3, Gia H6 và D đi về N7 hung khí rồi đi về.

Đặng Trung T3 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở B cầm theo 01 phóng lợn, T điều khiển xe mô chở H cầm theo 01 phóng lợn; H12 điều khiển xe mô tô chở Khánh L4 cầm theo 01 phóng lợn; N2 điều khiển xe mô tô chở T5 cầm theo 01 phóng lợn đi trên Quốc lộ E chiều đường H - Hải Phòng, khi đi đến gần khu vực cầu vượt dân sinh số 1 qua đường Q thuộc địa phận thôn N, xã T thì gặp nhóm của anh Lê Việt H13 sinh năm 2006 ở thôn T, xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đang điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu sơn trắng - xanh - đen, biển số 89L1-293.96 đi một mình phí trước cùng chiều và bạn anh H13 là anh Lưu Quang D5 sinh năm 2006 ở thôn T điều khiển mô tô Honda Wave 110, màu tím than, BKS: 89M2-036.94 chở Chu Anh V, sinh năm 2007 ở xã Đ, huyện Y. Lê Quang V1, sinh năm 2005 ở thôn T một mình điều khiển xe mô tô Honda Dream, màu nâu. Trần Quang T12, sinh năm 2008 ở thôn T, điều khiển xe xe mô tô Honda Wave, màu tím than, không gắn biển số chở Lê Anh V2, sinh năm 2006 ở cùng thôn. Lê Quốc D6, sinh năm 2006 ở thôn T, xã G, huyện Y, điều khiển xe Honda Wave, màu đen không biển số chở Lê Anh Đ1, sinh năm 2007 ở cùng thôn. Thấy vậy Khánh L4 bảo H12 tăng ga đuổi theo đánh nhóm của anh H13, H12 đồng ý. Khi đuổi kịp, L4 bảo H12 áp sát vào xe của anh H13, L4 ngồi phía sau hai tay cầm phóng lợn dơ lên cao chém 01 phát theo hướng từ trên xuống thì trúng vào lưng anh H13, chém xong L4 bảo H12 tăng ga bỏ chạy. Khi thấy H12 bỏ chạy thì các xe đi T3, T, N2 cũng tăng ga bỏ chạy theo. Cả nhóm đi đến Chợ Đ2 thì rẽ sang chiều đường H - Hà Nội của Quốc lộ E rồi đi ra về Nghĩa Trang thôn H, thị trấn N, huyện V thì dừng lại, Khánh L4 và H12 đi vào trong Nghĩa T13 cất phóng lợn và tuýp sắt, xong đi về nhà. Sau khi anh H13 bị Khánh L4 chém gây thương tích đã được gia đình đưa đến Bệnh viện Đ3 để điều trị vết thương từ ngày 08/7/2023 đến ngày 12/7/2023 thì được ra viện. Ngày 10/7/2023 anh H13 làm đơn trình báo gửi cơ quan CSĐT- Công an huyện L đề nghị khởi tố những người đã gây ra thương tích cho anh.

Ngày 10/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 161 gửi V3- Bộ C giám định tỷ lệ phần trăm thương tích đối với anh H13 nhưng anh H13 tự nguyện từ chối giám định và có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với những người đã gây ra thương tích cho anh. Việc anh H13 rút đơn là hoàn toàn tự nguyện.

Ngày 20/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thu giữ được hình ảnh video ghi lại diễn biến vụ việc. Ngày 25/10/2023 Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu phòng K5 Công an tỉnh H giám định hình ảnh video đã thu giữ được xem có bị cắt ghép chỉnh sửa không. Ngày 11/12/2023, Phòng K5 Công an tỉnh H có Bản kết luận giám định số: 235, kết luận: “Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 file video lưu tên trong mẫu niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định”.

Đối với hành vi tụ tập, gây rối, sử dụng hung khí gây mất tự của Đỗ Khánh L4 (15 tuổi, 09 tháng 09 ngày), Bùi Duy B1 (15 tuổi 10 tháng 18 ngày), Hoàng Quốc T9 (15 tuổi 02 ngày), Phạm Văn H9 (15 tuổi 08 tháng 03 ngày), Cao Lê Hoàng H12 (15 tuổi 06 tháng 07 ngày), Phùng Nhật M (15 tuổi 09 tháng), Bạch Trường G (15 tuổi 03 tháng 07 ngày), Nguyễn Quang D4 (15 tuổi 05 tháng 23 ngày), Nguyễn Quang H11 (15 tuổi 08 tháng 03 ngày) tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự. Ngày 04/02/2024, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức: Cảnh cáo.

Đối với hành vi của Cao Lê Hoàng H12 điều khiển xe mô tô chở Đỗ Khánh L4 cầm dao phóng lợn chém gây thương tích cho anh H13 là hành động bột phát không có sự rủ rê và giúp sức của các đối tượng khác. Do bị hại đã có đơn từ chối giám định thương tích, rút đơn yêu cầu khởi tố nên Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.

Đối với Bùi Anh T10, Hoàng Quang T11, Bùi Quốc B2, Đinh Mạnh H10, khi thấy nhóm của Khánh L4 mang theo hung khí đi trên đường thì T11, B2, H10, T10 đã không tham gia đi cùng ngay từ đầu nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của TAND huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã quyết định (tóm tắt):

  • + Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Xuân H, Cao Thành L, Đỗ Hồng N2, Phan Thanh B, Đặng Trung T3, Đỗ Văn T5, Nguyễn Khánh D, Nguyễn Văn K1, Nguyễn Gia H6, Trần Hoàng A và Nguyễn Bùi Tuấn K2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 56 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn T và Đinh Xuân H.
  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Thành L.
  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 56; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Hồng N2; Phan Thanh B; Đặng Trung T3 và Đỗ Văn T5 (bị cáo N2, B, T3 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).
  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Khánh D, Nguyễn Văn K1 và Nguyễn Gia H6.
  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Hoàng A và Nguyễn Bùi Tuấn K2.
  • + Xử phạt: Đinh Văn T 02 (hai) năm tù, tổng hợp với 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 312/2023/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 04 (bốn) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 13 tháng 7 năm 2023.
  • + Xử phạt: Đinh Xuân H 02 (hai) năm tù, tổng hợp với 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 312/2023/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 04 (bốn) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2023.
  • + Xử phạt: Cao Thành L 02 (hai) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • + Xử phạt: Đỗ Hồng N2 01 (một) năm tù, tổng hợp với 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 312/2023/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2023.
  • + Xử phạt: Đỗ Văn T5 01 (một) năm tù, tổng hợp với 13 (mười ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 180/2024/HS-PT ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2023.
  • + Xử phạt: Đặng Trung T3 01 (một) năm tù, tổng hợp với 13 (mười ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 180/2024/HS-PT ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2023.
  • + Xử phạt: Phan Thanh B 01 (một) năm tù, tổng hợp với 13 (mười ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 180/2024/HS-PT ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2023.
  • + Xử phạt: Nguyễn Khánh D 01 (một) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • + Xử phạt: Nguyễn Gia H6 01 (một) năm tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • +Xử phạt: Nguyễn Văn K1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • + Xử phạt: Trần Hoàng A 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt: Nguyễn Bùi Tuấn K2 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 08 (tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 16/8/2024, bị cáo Nguyễn Khánh D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

Ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên kháng nghị phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa:

  • + Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và bị cáo Nguyễn Khánh D giữ nguyên yêu cầu kháng nghị, kháng cáo.
  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo D và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Bị cáo D tham gia vụ án là đồng phạm với vai trò thứ yếu, ngồi sau xe do bị cáo H6 điều khiển, không tham gia chuẩn bị hung khí, không tham gia gây rối ở giai đoạn sau tại địa phận xã T, huyện V; tại giai đoạn phúc thẩm, gia đình bị cáo xuất trình thêm các tài liệu, chứng cứ thể hiện thân nhân của bị cáo có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, công tác nên D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm cho bị cáo D từ 02 tháng – 03 tháng tù. Ngoài ra, buộc 12 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  • + Người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với nội dung kháng nghị của VKSND tỉnh Hưng Yên về việc buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sư sơ thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo D, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, đang là học sinh, do bị người khác rủ rê, có vai trò thứ yếu để chấp nhận kháng cáo của D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân và của đồng phạm. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ ngày 08/7/2023, tại trục đường từ Nhà văn hóa huyện V ra Quốc lộ E, chiều đường H - Hà Nội thuộc địa phận thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, các bị cáo Phan Thanh B, Đinh Xuân H, Đỗ Hồng N2, Đặng Trung T3, Đinh Văn T, Đỗ Văn T5, Cao Thành L, Nguyễn Gia H6, Nguyễn Khánh D, Nguyễn Văn K1, Nguyễn Bùi Tuấn K2 và Trần Hoàng A đã có hành vi tụ tập, sử dụng hung khí nguy hiểm là tuýp sắt, dao phóng lợn để khua khoắng, hò hét, điều khiển xe mô tô với tốc độ cao, rú còi, lạng lách, đánh võng trên đường, gây huyên náo, ảnh hưởng nghiêm trọng đến người và các phương tiện khác đang tham gia giao thông. Ngoài ra, bị cáo Đỗ Khánh L4 còn sử dụng dao phóng lơn chém người đi đường.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn công cộng. Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2] Xét kháng nghị của VKSND tỉnh Hưng Yên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc 12 bị cáo nêu trên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo này bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội Gây rối trật tự công cộng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án thì cả 12 bị cáo này phải chịu án phí hính sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Nhưng tại phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HSST ngày 06/8/2024 của TAND huyện Văn Lâm đã không áp dụng các điều luật viện dẫn nêu trên, cũng như không buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là không đúng quy định pháp luật.

Mặc dù, Tòa án cấp sơ thẩm sau đó đã phát hiện ra sai sót và ban hành Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án vào ngày 04/9/2024 với nội dung buộc các bị cáo phải chịu án phí. Nhưng nội dung sửa chữa, bổ sung này của Tòa án cấp sơ thẩm không thuộc phạm vi được sửa chữa, bổ sung theo quy định của Điều 261 BLTTHS nên không được chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ chấp nhận nội dung kháng nghị của VKSND tỉnh Hưng Yên.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương của bị cáo Nguyễn Khánh D thì thấy: Bị cáo D sinh ngày 20/3/2007, là người chưa thành niên, phạm tôi do bị người khác rủ rê, lôi kéo; bị cáo không tham gia chuẩn bị hung khí, không cầm theo hung khí trong suốt thời gian đi trên đường, ngồi sau xe máy do bị cáo H6 điều khiển; bị cáo D chỉ tham gia gây rối ở giai đoạn đầu, trên Quốc lộ E, đoạn thuộc địa phận thị trấn N, huyện V, mà không tham gia gây rối trên Quốc lộ E đoạn thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện V. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt D 01 năm tù, bằng với mức hình phạt của bị cáo N2 - tham gia chuẩn bị hung khí, gây rối ở cả hai giai đoạn, đồng thời cũng bằng với mức hình phạt của bị cáo H6 là người tham gia chuẩn bị hung khí. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho D là nghiêm khắc, chưa phân hóa, phản ánh đúng vai tró, tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm do Duy thực hiện trong mối tương quan với các đồng phạm khác của vụ án. Ngoài ra, tại giai đoạn phúc thẩm, gia đình bị cáo D có giao nộp bổ sung một số tài liệu thể hiện thân nhân của bị cáo có thành tích trong kháng chiến, cứu quốc, nên D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; đối với kháng cáo xin được cải tạo tại địa phương, do không phù hợp với quy định của pháp luật do trước đó D đã được TAND quận Long Biên cho hưởng án treo cũng về tội Gây rối trật tự công cộng, nên không được chấp nhận.

[4] Bị cáo D kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 (đối với bị cáo D) BLTTHS.
  2. Chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Hưng Yên và một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Khánh D. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của TAND huyện Văn Lâm như sau:
    1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 101 BLHS (đối với bị cáo D); khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh D 09 (chín) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
    3. Án phí sơ thẩm: Các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Xuân H, Cao Thành L, Đỗ Hồng N2, Phan Thanh B, Đặng Trung T3, Đỗ Văn T5, Nguyễn Khánh D, Nguyễn Văn K1, Nguyễn Gia H6, Trần Hoàng A và Nguyễn Bùi Tuấn K2; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
    4. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Khánh D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng PC10-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam;
  • - TAND, VKSND, CA huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HC; VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Tuấn Trọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 64/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khánh D phạm tội Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger