|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2024/HS-PT
Ngày: 25 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Trưởng và ông Trần Công Đoàn.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa:
Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 82/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Trường L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2024/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Trường L, sinh năm 1986 tại Nam Định; nơi cư trú: Tổ D, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trường S và bà Hoàng Thị L1 (đều đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 08/7/2009, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; ngày 24/9/2009, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/04/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”, 03 năm tù về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” tổng hợp chung hình phạt tù cả hai tội là 05 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/04/2019. Ngày 27/8/2020, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 42 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/05/2023; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 23/05/2024, tạm giam từ ngày 26/05/2024 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Anh T, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 11/11/2023, Vũ Trung H điều khiển xe môtô HONDA Wave, BKS: 18B2-007.59 chở Nguyễn Trường L đến nhà Hoàng Anh D rủ D cùng đi trộm cắp tài sản. D đồng ý và lấy vam phá khóa xe máy để mang theo. H điều khiển xe môtô chở L, D điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ, BKS: 29P1-1570 đi theo Quốc lộ B hướng từ thành phố N, tỉnh Nam Định lên thành phố P, tỉnh Hà Nam tìm xe môtô để trộm cắp. Trên đường đi, H, L và D bàn bạc, thống nhất D điều khiển xe môtô chở L đi phía trước còn H đi đằng sau cảnh giới, nếu có người truy đuổi thì H sẽ ngăn cản để H và L bỏ chạy thoát. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H, L và D khi đi đến khu vực đường T thuộc tổ dân phố M, phường L, thành phố P thì nhìn thấy chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng, đen, bạc, BKS: 90B2- 886.49 của ông Trần Anh T đang dựng trên vỉa hè phía trước một lô đất trống nằm giữa số nhà D và 428 không có người trông coi nên đã thống nhất cùng nhau lấy trộm chiếc xe môtô này. D điều khiển xe môtô BKS: 29P1-1570 chở L đi sang đường rồi dừng xe gần chỗ chiếc xe môtô BKS: 90B2- 886.49 để quan sát còn H điều khiển xe môtô BKS: 18B2-007.59 sang phía chiều đường đối diện đứng để cảnh giới. Quan sát thấy xung quanh không có người, L xuống xe đi đến dùng vam phá khóa ổ điện xe môtô BKS: 90B2- 886.49 rồi ngồi lên điều khiển xe chạy về hướng ngã 5 siêu thị M thì bị người dân phát hiện, tri hô đuổi bắt. D và H cùng điều khiển xe môtô đuổi theo L rồi cả bọn theo Quốc lộ B đi về thành phố N. Khi đi đến tổ dân phố số A, phường L, thành phố N, L, H và D dựng xe vào quán nước mía hè bên đường ngoài uống nước. D gửi lại chiếc xe môtô BKS: 29P1-1570 tại quán nước rồi dùng L và H mang chiếc xe môtô BKS: 90B2- 886.49 đi cất giấu. Sau đó, L đã mang chiếc xe môtô lấy cắp được ra thành phố Hải Phòng bán cho một người đi đường với giá 4.000.000đồng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, L tìm D và đưa cho D số tiền 2.000.000đồng có được từ việc bán chiếc xe môtô BKS 90B2- 886.49, số tiền còn lại L sử dụng tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 13/11/2023, ông Trần Anh T đã đến Công an phường L, thành phố P trình báo sự việc bị mất trộm chiếc xe môtô BKS 90B2-886.49.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 122/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2023, Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận:“01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, màu trắng, đen, bạc, BKS: 90B2-886.49, số khung RLHJA3910KY014970, số máy JA39E0870947, sản xuất năm 2019, xe đã qua sử dụng (chưa thu giữ được) giá: 11.500.000 đồng”.
Vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án gồm: 01 chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 90001438, biển số đăng ký 90B2-886.49 mang tên chủ xe Đinh Mạnh T1; 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ, BKS: 29P1-1570; 01 chứng nhận đăng ký xe môtô mang tên Hòa Tùng L2; 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng, đen, bạc, BKS: 18B2-007.59; 01 chứng nhận đăng ký xe môtô và 01 giấy phép lái xe hạng A1 đều mang tên Vũ Trung H; 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A32 màu đen; 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai bằng nhựa màu xanh đen; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần soóc bò màu xanh; 01 đôi dép nhựa màu đen, trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu vàng; 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai bằng nhựa màu nâu, xám; 01 áo phông cộc tay màu đen, trắng; 01 quần bò màu xanh, loại quần dài; 01 áo phông cộc tay, loại cổ bẻ màu xanh da trời; 01 quần bò màu đen; 05 BKS xe môtô gồm 18N1-1545, 18C1-058.06, 18K1- 104.93, 18B1-411.73 và 18Z3-6423; 01 thanh kim loại dài 09cm, dạng vam để phá khóa, một đầu dẹt nhọn, một đầu tròn; 01 thanh kim loại dài 07cm dạng vam để phá khóa, một đầu có nhiều cạnh, một đầu tròn; 04 thẻ nhớ USB nhãn hiệu Kingston bên trong lưu trữ dữ liệu hình ảnh được niêm phong trong phong bì ký hiệu: CAM, ĐKT Video 1, ĐKT Video 2 và ĐKT Video số nhà E T và số tiền 4.335.000đồng (trong đó tạm giữ của Hoàng Anh D 2.835.000đồng và của Vũ Trung H 1.500.000đồng).
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Trường L bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên ngày 25/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra quyết định truy nã đối với Nguyễn Trường L, đồng thời tách hành vi phạm tội của Nguyễn Trường L ra để kết thúc điều tra, đề nghị truy tố đối với Hoàng Anh D và Vũ Trung H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2024/HS-ST ngày 10/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử đối với Hoàng Anh D và Vũ Trung H về tội: “Trộm cắp tài sản” đã quyết định:
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Anh D 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023. Xử phạt bị cáo Vũ Trung H 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo Vũ Trung H cho UBND phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Anh D phải bồi thường cho ông Trần Anh T số tiền 4.250.000đồng, đối trừ số tiền 2.000.000đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã thu giữ, bị cáo Hoàng Anh D còn phải bồi thường tiếp cho ông Trần Anh T số tiền 2.250.000đồng.
Xử lý vật chứng của vụ án:
- + Trả lại cho ông Trần Anh T 01 chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 90001438, biển số đăng ký 90B2-886.49 mang tên chủ xe Đinh Mạnh T1.
- + Trả lại cho bà Hoàng Thị Hải Y 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ, BKS: 29P1-1570 và chứng nhận đăng ký xe môtô, xe gắn máy số 0253282 mang tên chủ xe Hòa Tùng L2.
- + Trả lại cho bị cáo Vũ Trung H 01 giấy phép lái xe hạng A1, số S340606 mang tên Vũ Trung H; 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A32 màu đen, số IMEI: 356835254806978, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0944.028.xxx; 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai bằng nhựa màu xanh đen; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần soóc bò màu xanh dạng quần xước; 01 đôi dép nhựa màu đen, trắng và số tiền 1.500.000đồng.
- + Trả lại cho bị cáo Hoàng Anh D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu vàng, số IMEI: 869686032593515, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0856.154.xxx; 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai bằng nhựa màu nâu, xám; 01 áo phông cộc tay màu đen, trắng; 01 quần bò màu xanh, loại quần dài và số tiền 835.000đồng.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng, đen, bạc, BKS: 18B2-007.59 và 01 chứng nhận đăng ký xe môtô, xe gắn máy số 078768 mang tên chủ xe Vũ Trung H.
- + Tịch thu, tiêu hủy 05 BKS xe môtô gồm 18N1-1545, 18C1- 058.06, 18K1-104.93, 18B1-411.73 và 18Z3-6423; 01 thanh kim loại dài 09cm, dạng vam để phá khóa ổ điện xe môtô, một đầu dẹt nhọn, một đầu tròn; 01 thanh kim loại dài 07cm dạng vam để phá khóa ổ điện xe môtô, một đầu có nhiều cạnh, một đầu tròn trong 01 hộp cát tông hình chữ nhật còn nguyên vẹn niêm phong.
- + Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 04 thẻ nhớ USB nhãn hiệu Kingston bên trong lưu trữ dữ liệu hình ảnh được niêm phong trong phong bì ký hiệu: CAM, ĐKT Video 1, ĐKT Video 2 và ĐKT Video số nhà E T.
Ngày 22/05/2024, Nguyễn Trường L đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C để đầu thú.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 135/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã quyết định:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 và khoản 5 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 35, 38, 47, 48 và 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. 1.1. Xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/05/2024.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định: Ngày 09/9/2024, bị cáo Nguyễn Trường L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
- - Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu, căn cứ
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Trường L. Và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 135/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt chính. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường L 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/5/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường L trong thời hạn luật định nên vụ án được Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trường L khai nhận hành vi phạm tội, L3 khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/11/2023, tại tổ dân phố M, phường L, thành phố P, Nguyễn Trường L cùng với Hoàng Anh D (tên khác Hoàng Văn D1) và Vũ Trung H lợi dụng sự sơ hở của người khác trong việc trông coi, quản lý tài sản đã lén lút lấy trộm của ông Trần Anh T chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát: 90B2-886.49 trị giá 11.500.000đồng. Nguyễn Trường L là người đã bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” và chưa được xóa án tích.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” và thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Bản án sơ thẩm đã xác định là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường L thấy:
Nguyễn Trường L là người khởi xướng, rủ rê Hoàng Anh D và Vũ Trung H phạm tội đồng thời cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe môtô BKS 90B2-886.49 của ông Trần Anh T nên bị cáo giữ vai trò thứ nhất, phải chịu mức hình phạt cao nhất so với đồng phạm.
Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhân thân xấu do đã nhiều lần bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” đều chưa được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện; sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam nhận được công văn số 4511/A09-P2 ngày 04/11/2024 của Cục A điều tra Bộ C ghi nhận bị cáo Nguyễn Trường L đã cung cấp thông tin chính xác, đặc biệt quan trọng giúp Cục A điều tra Bộ C và Cục điều tra Tội phạm về ma tuý Bộ C tiến hành truy bắt các đối tượng có lệnh truy nã đặc biệt nguy hiểm. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo không những gây thiệt hại về tài sản cho người khác mà còn gây mất trật tự, trị an khu vực dân cư, tạo nên tâm lý lo ngại, bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người mặc dù đã nhiều lần bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” và ở mức độ tái phạm nguy hiểm nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục vi phạm do cố ý, thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú gây khó khăn, cản trở cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết giảm nhẹ mới tại giai đoạn xét xử phúc thẩm nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án sớm trở về với gia đình và xã hội.
Xét nội dung xin miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền thấy: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố, mẹ bị cáo đều đã chết bản thân chưa vợ con, nên xét thấy không cấp áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vì các lý do nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung của bị cáo, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và miễn phạt bổ sung của bị cáo Nguyễn Trường L. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
[1] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 35, 38, 47, 48 và 50 Bộ luật Hình sự; Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường L 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/5/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Trường L.
[2] Về án phí phúc thẩm hình sự: Bị cáo không phải nộp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn San |
Bản án số 64/2024/HS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 64/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
