Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 64/2024/HS - PT

Ngày: 30 - 5 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung

Ông Nguyễn Đức Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 26/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Cảnh L, Trần Văn T, Trần Đình T1 do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2023/HS - ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Các bị cáo bị kháng cáo:

  1. Nguyễn Cảnh L, sinh năm 1993 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối E, thị trấn T, huyện T tỉnh Nghệ An; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Cảnh T2, sinh năm 1962 và bà Trịnh Thị L1, sinh năm 1964; Anh, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 04; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2022 đến nay. Có mặt.
  2. Trần Văn T3, sinh năm 1991 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T tỉnh Nghệ An; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Trần Văn N, sinh năm 1968 và bà Võ Thị Kim T4, sinh năm 1970; Anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ 01; Vợ Trần Thị Thu H, sinh năm 1993; Con có 03 người, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  3. Trần Đình T1, sinh năm 1991 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối E, thị trấn T, huyện T tỉnh Nghệ An; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Trần Đình T5, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1966; A, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 02; Vợ Hoàng Thị G, sinh năm 1992; Con có 03 người, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại: Anh Bùi Trung S, sinh năm 1991 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Bùi Trung S có kháng cáo:

  • - Ông Bùi Trung T6, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Bố đẻ anh S). Có mặt.
  • - Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Mẹ đẻ anh S). Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Bùi Trung T6:

Luật sư: Nguyễn Văn H1. Vắng mặt. Luật sư: Nguyễn Văn T7. Có mặt.

Công ty L4, Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Phòng 2110, Toà A 10 CT2, Khu đô thị N, Đường N, Phường Y, Quận C, TP Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trịnh Văn D, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Anh Lê Trung H2, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Khối C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người giám định: Ông Nguyễn Cảnh L2; Ông Trần Văn H3 - Giám định viên. Nơi làm việc: Phòng K Công an tỉnh N. Vắng mặt.

Người làm chứng:

Anh Trịnh Văn H4, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Anh Ngũ Văn T8, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Anh Lê Quang Huy V1, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Đình T9, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn Y, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 28/10/2022, tại quán bi-a Dũng H5khối A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An trong quá trình Nguyễn Cảnh L, Nguyễn Đình T9, sinh năm 1992, trú tại thôn Y, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An và Bùi Trung S, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh đang đánh B-a với nhau thì giữa Nguyễn Cảnh LBùi Trung S xẩy ra mâu thuẫn, thách thức nhau. S nói với L “Mi mần chi được thì mần đi” thì L đi đến dùng vai đẩy vào người S. S dùng tay đẩy người L ra rồi SL mỗi người cầm 01 cái gậy bi-a đánh nhau. Quá trình đánh nhau, S dùng gậy bi-a đánh 01 phát trúng vào vùng đầu L làm L bị thương chảy máu còn L dùng gậy bi-a đánh trúng vào vùng thân người bên trái của S. Thấy vậy, H4 chạy lại can ngăn, ôm L đẩy ra nhưng giữa LS vẫn tiếp tục giằng co, vật, đè nhau trên thành bàn bi-a. Lúc đó, Trần Văn T3 (là bạn của L) đang đánh bi-a ở gần đó chạy đến thì thấy L bị thương chảy máu nên T3 nói “Thằng mô đập bạn tau chảy máu” thì L ngoảnh đầu nhìn về phía S (ý nói cho T3 biết S là người đánh L). T3 chạy đến dùng chân đạp 01 phát trúng vào vùng hông bên trái cuả S làm S ngã xuống nền quán, T3 tiếp tục dùng tay đấm 03 phát trúng vào cánh tay, bả vai bên trái và lưng của S. Thấy vậy, H4 chạy lại can ngăn và đẩy T3 ra ngoài còn L lấy 01 viên bi-a ném về phía S nhưng không trúng. Lúc này T3 cầm 01 cái khuôn (dùng để xếp bi-a) định ném S nhưng thấy S tránh vào góc tường nên T3 thả khuôn xuống. Tiếp đó, L cầm 01 viên bi-a ném về phía S nhưng không trúng. Lúc này, Trịnh Văn D, sinh năm 1996, trú tại khối A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An là chủ quán bi-a D Huê đến can ngăn và yêu cầu mọi người đi ra ngoài. L đi trước, S đi sau, trong quá trình đi ra L gọi điện thoại cho Trần Đình T1 (là bạn của L) báo cho T1 biết việc L bị đánh. Khi thấy S vừa đi ra đến trước cửa quán B1-a Dũng H5 thì L cầm 01 viên gạch ném về phía S nhưng không trúng. L chạy đến vật S ngã xuống sân trước quán, dùng tay trái cầm tóc, dùng đầu gối phải đánh (lên gối) 01 phát trúng vào vùng mặt của S. Thấy vậy, H4 và mọi người chạy đến can ngăn rồi cùng L, T1, S đi ra tập trung tại khu vực đường liên khối trước quán B1-a Dũng H5.

Đối với Trần Đình T1, khi đang đi cùng với Lê Trung H2, sinh năm 1995, trú tại khối C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An thì nhận được được thoại của L, nên cùng H2 đi đến khu vực đường liên khối trước quán B1-a Dũng H5. Tại đây, T1 nhìn thấy long bị chảy máu thì hỏi: “thằng mô đập thằng L đây bay” thì L chỉ tay về với S đang đứng ngần đó. T1 chạy lại dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào vùng miệng của S, sau đó được mọi người can ngăn. Thấy L bị chảy máu nên H2 điều khiển xe mô tô chở L đi về nhà H2. Còn T9 điều khiển xe mô tô chở S; Nguyễn Thế A, sinh năm 2001, trú tại khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An điều khiển xe mô tô chở H4 đi đến Trạm y tế thị trấn T, huyện T để rửa vết thương cho S. Tuy nhiên, khi đến nơi thấy Trạm y tế đã đóng cửa nên H4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37E1-832.59 (xe mô tô của Nguyễn Thế A) chở S đi theo đường quốc lộ 46 hướng từ thị trấn T đi xã T để về nhà của H4 ở đường N, khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An, còn Thế A điều khiển xe mô tô chở T9 quay lại quán B1-a Dũng H5.

Đối với Nguyễn Cảnh LLê Trung H2, sau khi về tại nhà của H2khối C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An thì L thấy 01 con dao đặt tại bàn ngoài sân, nên lấy và dấu vào trong lung quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37E1-018.02 (xe mô tô của H2, quá trình L lấy dao và xe mô tô thì H2 không biết) đi đến quán B1-a Dũng H5 tìm S để giải quyết mâu thuẫn. Tại đây, L gặp T10 anh và T9 thì L hỏi “bọn nở mô rồi” (ý nói S đang ở đâu) thì Thế A nói “về cả rồi, anh về ngủ đi”. Nghe vậy, L điều khiển xe mô tô di chuyển theo hướng xuống Bệnh viện Đa khoa huyện T để tìm S. Sợ L sẽ tiếp tục tìm S để đánh nên Thế A điều khiển xe mô tô chở theo T9 đuổi theo L để can ngăn. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày 28/10/2022, khi Nguyên Cảnh L3 điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường ngã tư quán P (đường N thuộc địa phận khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ an) thì L3 nhìn thấy anh Trịnh Văn H4 đang điều khiển xe mô tô chở anh Bùi Trung S đang di chuyển theo hướng ngược lại. Khi cách xe L3 khoảng 02 mét thì H4 thấy L3 có dắt 01 con dao ở lưng quần bên hông trái, lo sợ L3 sẽ tiếp tục đánh S nên H4 điều khiển xe mô tô 37E1-832.59 tăng ga bỏ chạy. Thấy vậy, L3 quay xe đuổi theo H4, quá trình đuổi theo thì Nguyễn Cảnh L rút dao ra cầm ở tay trái bám theo xe H4, cách xe H4 khoảng 3 đến 4 mét, khi đuổi theo được khoảng 02 đến 03 mét thì L nhìn thấy S ngã sang bên phải theo hướng di chuyển từ trên xe do H4 điều khiển xuống đường. Thấy S ngã thì L tiếp tục điều khiển xe mô tô bỏ đi, còn H4 dừng xe đi lại thì S nằm bất tỉnh. Cùng lúc đó Thế AT9 cũng vừa đến nơi nên cùng H4 đưa S đến Bệnh viện Đa khoa huyện T để cấp cứu sau đó được chuyển đến Bệnh viện hữu nghị Đa khoa N1, đến ngày 07/11/2022, Bùi Trung S bị chết.

Đến ngày 04/11/2022, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Cảnh L đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú.

Ngày 07/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh N đã thành lập hội đồng khám nghiệm tử thi và ra Quyết định Trưng cầu giám định số 546/HS-Đ5, trưng cầu giám định nguyên nhân chết đối với Bùi Trung S.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 250/KL-KTHS(GĐ-PY) ngày 18/11/2022 của Phòng K Công an tỉnh N đã kết luận:

“...III. PHẦN GIÁM ĐỊNH

  1. Khám ngoài:
    1. Tử thi phía trên không mặc áo, phía dưới mặc bỉm vệ sinh màu xanh.
    2. Chiều dài tử thi 161 cm, thể trạng trung bình.
    3. Đầu, T11 phía bên phải, cách đỉnh vành tai phải 7 cm, cách sau đuôi lông mày phải 15 cm, có 01 vùng xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (24 x 15) cm.
    4. Gò má bên trái, cách trên sau mép miệng trái 6,5 cm, cách trên trước dái tai trái 8cm, có 01 vùng xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (6 x 5,5) cm.
    5. Má bên phải, cách mép sau miệng phải 9 cm, cách trước dái tai phải 3 cm, có 01 vùng sung nề, bầm tụ máu, kích thước (11,5 x 7,5) cm.
    6. Môi trên bên trái, cách trên trong mép miệng trái 3,5 cm, cách dưới trong mũi trái 1,5cm, có 01 vết xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, kích thước (1,5 x 1,3) cm.
    7. Cằm phía bên phải, cách dưới mép miệng phải 4 cm, cách dưới trước dái tai phải 11,5 cm, có 01 vết xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, kích thước (1,2 x 0,3 cm).
    8. Mất răng số 1, số 2 hàm trên cả hai bên (còn lỗ ống tủy của răng số 2 bên trái).
    9. Mỏm vai trái, có 01 vết xây xát da, đã đóng vảy, bầm tụ máu, kích thước (1,5 x 1) cm.
    10. Lưng bên trái, cách đường giữa cột số 11, cách dưới bờ vai trái 16 cm, có 01 vùng xây xát da, đã đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (22 x 9) cm.
    11. Lưng, M bên phải, ngay đường thắt lưng, có 01 vùng xây xát da, loát da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (12 x 13) cm.
    12. Toàn bộ mu bàn, ngón tay trái, có 01 vùng xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (14 x 11) cm.
    13. Từ 1/3 dưới, ngoài cánh tay trái đến 1/3 giữa, ngoài cẳng tay trái, có 01 vùng xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (26 x 13) cm.
    14. Toàn bộ mua bàn, ngón tay phải, có 01 vùng xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (13 x 12) cm.
    15. Đầu gối trái và 1/3 trên, trước cẳng chân trái, có 01 vùng xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (21 x 14) cm.
    16. Toàn bộ mu bàn, ngón trái, có 01 vùng xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (13 x 11) cm.
    17. Đầu gối phải, có 01 vùng xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (9x 4,5) cm.
    18. Toàn bộ mu bàn, ngón chân phải, có 01 vùng xây xát da, đang đóng vảy, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (19 x 8) cm.
    19. (Ngoài ra không tìm thấy tổn thương gì khác)

  2. Khám trong:
    • * Đầu:
    • Tương ứng với tổn thương mục 1.3 (phần khám ngoài), tổ chức dưới da bị bầm tụ máu nặng, xương hộp sọ bị vỡ thành nhiều đường, vùng đo được có kích thước (12 x 8,5) cm.

      - Máu tụ ngoài màng cứng bán cầu đại não phải. Máu tụ dưới màng cứng hai bán cầu đại não. Tổ chức não phù.

    • * Ngực – Bụng:
    • - Tổ chức dưới da không bị bầm tụ máu.

      - Xương sườn, xương ức không bị gãy.

      - Khoang lồng ngực hai bên, bao tim, ổ bụng không có máu đông.

      - Tim, phổi, gan, thận xung huyết, không bị tổn thương.

      (Ngoài ra không tìm thấy tổn thương gì khác)

IV. PHẦN KẾT LUẬN

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • - Bên ngoài nạn nhân nhiều vết xây xát da, đang đóng vảy, sung phù nề, bầm tụ máu.
    • - Xương họp sọ bị vỡ.
    • - Máu tụ ngoài màng cứng bán cầu đại não. Máu tụ dưới màng cứng hai bán cầu đại não. Tổ chức não phù nề
  2. Nguyên nhân chết: Vỡ xương hộp sọ, xuất huyết não và phù não do chấn thương".

Ngày 14/02/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An có Công văn số 57/CV-CSĐT đề nghị Phòng K Công an tỉnh N, biện luận dấu vết thương tích của Bùi Trung S.

Tại Công văn số 04/CV-KTHS (GĐ-PY) ngày 18/02/2023, của Phòng K Công an tỉnh N đã trả lời:

“1. Nếu anh Bùi Trung S nhảy, ngã xuống khi đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave (xe đang di chuyển) đập đầu vùng bên phải (Trái, thái dương, đỉnh, chẩm, phía bên phải) xuống nền đường nhựa thì có thể gây ra được dấu vết đã mô tả tại mục 1.3 trong Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 250/KL-KTHS (GĐ-PY) ngày 18/11/2022, của Phòng K Công an tỉnh N.

2. Trong quá trình vật lộn, nếu Nguyễn Cảnh L sử dụng đầu gối phải, cùi (lên gối trúng vào vùng đầu bên phải (T11, thái dương, đỉnh, chẩm phía bên phải) của anh Bùi Trung S thì khó có thể gây ra được dấu vết đã mô tả tại mục 1.3 trong Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 250/KL-KTHS (GĐ-PY) ngày 18/11/2022, của Phòng K Công an tỉnh N”.

Ngày 08/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An có Quyết định trưng cầu giám định số 63/QĐ-CSĐT, để giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của tử thi Bùi Trung S. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 128/KLTTCT-TTPYNA ngày 13/3/2023, của Phòng K Công an tỉnh N, đã kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • Mất răng 1.1, có tỷ lệ: 02% (hai phần trăm).
  • Mất răng 1.2, có tỷ lệ: 02% (hai phần trăm).
  • Mất răng 2.1, có tỷ lệ: 02% (hai phần trăm).
  • Mất răng 2.2, có tỷ lệ: 02% (hai phần trăm).
  • Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể cho các tổn thương vết xây xát da bầm tụ máu nên 01 vết xây xát da không liên tục từ 1/3 giữa ngoài cánh tay bên trái đến 1/3 giữa ngoài cẳng tay bên trái; 01 vết xây xát da đang đóng vảy má bên trái; 01 vết xây xát da bầm tụ máu đang đóng vảy gò má bên trái và 01 vết xây xát da bầm tụ máu mỏm cùng bên trái không tính tỷ lệ tổn thương cơ thể.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Trung S qua hồ sơ là: 08% (T12 phần trăm)”.

Ngày 31/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An có Quyết định trưng cầu giám định số 75/QĐ-CSĐT, để giám định tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 37E1-832.59 do Trịnh Văn H4 điều khiển và xe mô tô biển kiểm soát 37E1-018.02 do Nguyễn Cảnh L điều khiển trong quá trình đuổi nhau tại đường N thuộc khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Tại Kết luận giám định số 116/KL-KTHS (DVCH) ngày 18/4/2023, của Phòng K Công an tỉnh N, đã kết luận: “Căn cứ hồ sơ vụ gây rối trật tự công cộng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T gửi đến giám định không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô mang biển kiểm soát 37E1-832.59 và xe mô tô mang biển kiểm soát 37E1-018.02 trong quá trình xẩy ra sự việc”.

Ngày 15/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Cảnh L, tuy nhiên, Nguyễn Cảnh L có đơn từ chối giám định.

Ngày 09/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T yêu cầu định giá tài sản số 322/YC-CSĐT ngày 09/6/2023, đối với thiệt hại của 01 (một) gậy bi-a làm bằng gỗ, đầu to sơn màu đen, đầu nhỏ sơn màu trắng, vàng, bị gãy làm hai phần; 01 (một) gậy bi-a làm bằng gỗ, đầu to sơn màu đen, sọc trắng, hoa văn màu hồng, đầu nhỏ sơn màu trắng, vàng, bị gãy làm hai phần; 02 (hai) viên bi-a hình cầu.

Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-ĐG ngày 10/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T đã kết luận: “Tổng giá trị còn lại của 01 (một) gậy bi-a làm bằng gỗ, đầu to sơn màu đen, đầu nhỏ sơn màu trắng, vàng, bị gãy làm hai phần; 01 (một) gậy bi-a làm bằng gỗ, đầu to sơn màu đen, sọc trắng, hoa văn màu hồng, đầu nhỏ sơn màu trắng, vàng, bị gãy làm hai phần; 02 (hai) viên bi-a hình cầu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)”.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ: 01 (một) con dao dài 31,5 cm, cán dao làm bằng nhựa màu đen dài 11cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 20,5 cm, rộng 5 cm; 01 (một) gậy bi-a làm bằng gỗ, đầu to sơn màu đen, đầu nhỏ sơn màu trắng, vàng, bị gãy làm hai phần; 01 (một) gậy bi-a làm bằng gỗ, đầu to sơn màu đen, sọc trắng, hoa văn màu hồng, đầu nhỏ sơn màu trắng, vàng, bị gãy làm hai phần; 02 (hai) viên bi-a hình cầu; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe C100, biển kiểm soát 37E1-018.02; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, biển kiểm soát 37E1-832.59.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe C100, biển kiểm soát 37E1-018.02; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, biển kiểm soát 37E1-832.59, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Thế ALê Trung H2.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình anh Bùi Trung S yêu cầu Nguyễn Cảnh L, Trần Văn T3, Trần Đình T1 bồi thường số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu) bao gồm các khoản tiền viện phí, tiền thuê xe cấp cứu 2, tiền ăn của người chăm sóc, tiền công thuê người chăm sóc, tiền mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần. Bị cáo Nguyễn Cảnh L đã bồi được số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) và ngày 12/12/2023 bị cáo Nguyễn Cảnh L đã tác động với gia đình nộp thêm số tiền 100.000.000đồng (Một trăm triệu) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương để bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại.

Ông Trịnh Văn D, anh Lê Trung H2Nguyễn Cảnh L không có yêu cầu gì về dân sự.

Với nội dung trên tại Bản án hình sự số 92/2023/HSST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự :Xử phạt: Nguyễn Cảnh L 05 (Năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/11/2022.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Văn T3 và bị cáo Trần Đình T1 mỗi bị cáo 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ;

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 288,Điều 584, Điều 585, Điều 590 và Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  • - Buộc bị cáo Trần Văn T3, Trần Đình T1 có nghĩa vụ liên đới bồi cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền 21.333.000 đồng (Hai mốt triệu, ba trăm ba ba ngàn) đồng. Chia kỷ phần:
  • Bị cáo Trần Văn T3 phải bồi thường cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền: 10.666.000 (Mười triệu, sáu trăm sáu sáu ngàn) đồng.

    Bị cáo Trần Đình T1 phải bồi thường cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền: 10.667.000 (Mười triệu, sáu trăm sáu bảy ngàn) đồng.

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Cảnh L phải bồi thường cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền: 158.867.000 (Một trăm năm mươi tám triệu, tám trăm sáu mươi bảy ngàn) đồng. Bị cáo Nguyễn Cảnh L được trừ đi số tiền 35.000.000đồng (Ba mươi lăm triệu) đã bồi thường và số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự Thanh Chương tại biên lai số 0012065 ngày 12/12/2023.
  • Bị cáo Nguyễn Cảnh L phải bồi thường tiếp cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền: 23.867.000 (Hai mươi ba triệu, tám trăm sáu mươi bảy ngàn) đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về vật chứng, án phí, hình phạt và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Bùi Trung T6 làm đơn kháng cáo với nội dung:

  • - Toà án cấp sơ thẩm tuyên án đối với bị cáo Trần Văn T3Trần Đình T1 là quá nhẹ, cần tăng hình phạt đối với hai bị cáo.
  • - Đề nghị Toà án xét xử bị cáo Nguyễn Cảnh L về 02 tội: “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Giết người”.
  • - Tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần, yêu cầu tiền cấp dưỡng cho bố mẹ bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã đánh giá tính chất, hành vi vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Vào khoảng từ 21 giờ 45 phút đến khoảng 22 giờ 20 phút ngày 28/10/2022, tại quán B1-a Dũng H5khối A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Trần Văn T3, Trần Đình T1 đã có hành vi đuổi đánh Bùi Trung S gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và các hoạt động khác địa phương.

Đối với bị cáo Nguyễn Cảnh L: Vào khoảng từ 21 giờ 45 phút đến khoảng 22 giờ 20 phút ngày 28/10/2022, tại quán B1-a Dũng H5khối A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An bị cáo Nguyễn Cảnh L cùng với Trần Văn T3, Trần Đình T1 đã có hành vi đuổi đánh Bùi Trung S, sau khi sự việc được mọi người can ngăn thì Nguyễn Cảnh L ra về, nhưng do bực tức vì bị anh Bùi Trung S đánh tại quán Bi a Dũng H5 do đó L chạy về nhà anh Lê Trung H2 lấy 01 con dao chạy xe đi tìm anh Bùi Trung S để giải quyết mâu thuẫn, bị cáo cầm dao chạy xe đến quán Bi a Dũng H5 thì không thấy anh Bùi Trung S ở đó nên bị cáo quay xe đi về hướng bệnh viện đa khoa huyện T, trên đường đi thì bị cáo nhìn thấy anh Trịnh Văn H4 đang chạy xe mô tô chở anh Bùi Trung S đi ngược chiều với bị cáo, nên bị cáo quay xe lại đuổi theo xe anh H4 để gặp anh Bùi Trung S giải quyết mâu thuẫn, bị cáo cầm dao tay trái, tay phải điều khiên xe mô tô đuổi theo xe anh H4, đuổi gần kịp xe anh H4 khi cách khoảng 02 đến 03 mét thì bị cáo thấy anh Bùi Trung S rơi từ trên xe ngã xuống đường nên bị cáo quay xe về.

Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn T3, Trần Đình T1 đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1, Điều 318 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Cảnh L đã phạm tội “ Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự như Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại:

[2.1] Đối với nội dung kháng cáo toà án cấp sơ thẩm tuyên xử hai bị cáo Trần Văn T3, Trần Đình T1 12 tháng cải tạo không giam giữ là quá nhẹ: Hội đồng xét xử xét thấy, chỉ vì mâu thuẫn trong khi đánh bi-a mà các bị cáo Trần Văn T3Trần Đình T1 có hành vi đuổi đánh Bùi Trung S làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội.Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ xử phạt các bị cáo mức hình phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với hai bị cáo của đại diện hợp pháp của bị hại ông Bùi Trung T6, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2.2] Đối với kháng cáo đề nghị xét xử bị cáo Nguyễn Cảnh L về 02 tội: “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Giết người” thấy rằng:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Nguyễn Cảnh L đều thừa nhận: Do có mâu thuẫn với anh Bùi Trung S trong lúc chơi Bi a tại quán Dũng H5 nên giữa anh Bùi Trung S và bị cáo đã có lời quan tiếng lại, dẫn đến đánh nhau, bị cáo bị anh Bùi Trung S dùng gậy bi a đánh vào người và được mọi người can ngăn nên bị cáo ra về. Do bực tức vì bị anh Bùi Trung S đánh tại quán bị a Dũng H5 do đó bị cáo chạy về nhà anh Lê Trung H2 lấy 01 con dao và chạy xe mô tô đi tìm anh Bùi Trung S để giải quyết mâu thuẫn, bị cáo chạy xe mô tô đến quán bi a Dũng H5 thì không thấy anh Bùi Trung S ở đó nên bị cáo qua xe đi về hướng Bệnh viện đa khoa huyện T, trên đường đi thì bị cáo nhìn thấy anh Trịnh Văn H4 đang chạy xe mô tô chở anh Bùi Trung S đi ngược chiều nên bị cáo quay xe lại đuổi theo xe anh Trịnh Văn H4 mục đích để gặp anh Bùi Trung S giải quyết mâu thuẫn, bị cáo cầm dao tay trái, tay phải điều khiên xe mô tô, đuổi gần kịp xe anh Trịnh Văn H4 cách khoảng 02 đến 03 mét thì bị cáo thấy anh Bùi Trung S rơi từ trên xe ngã xuống đường nên bị cáo quay xe về.

Việc bị cáo Nguyễn Cảnh L dùng xe mô tô, tay trái cầm theo dao đuổi theo xe anh Trịnh Văn H4 chở anh Bùi Trung S với mục đích để giải quyết mâu thuẫn (để đánh) anh Bùi Trung S, làm cho anh Trịnh Văn H4 sợ hãi tăng ga bỏ chạy, hậu quả làm anh Bùi Trung S rơi từ trên xe mô tô ngã xuống đường vỡ xương hộp sọ, xuất huyết não và phù não do chấn thương, dẫn đến chết. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai người làm chứng, người đại diện hợp pháp của bị hại; biên bản khám nghiệm tử thi; phù hợp với kết luận giám định pháp y và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà.

Bị cáo Nguyễn Cảnh L chạy xe mô tô, tay trái cầm theo dao đuổi theo xe mô tô anh Trịnh Văn H4 chở theo anh Bùi Trung S để giải quyết mâu thuẫn với anh Bùi Trung S, bị cáo đã thấy trước được hành vi của mình là nguy hiểm, nhưng bị cáo vẫn cố tình đuổi theo làm cho anh Trịnh Văn H4 sợ hãi tăng ga bỏ chạy, hậu quả làm anh Bùi Trung S rơi từ trên xe ngã xuống đường vỡ xương hộp sọ, xuất huyết não và phù não do chấn thương, dẫn đến chết là do bị cáo gây ra. Tuy nhiên việc anh Bùi Trung S rơi từ trên xe xuống đường chết là ngoài ý muốn của bị cáo, bị cáo không cố ý tước đoạt tính mạng anh Bùi Trung S. Tình huống pháp lý này không giống với tình huống pháp lý tại án lệ số 59/2023/AL, trong án lệ bị hại là người trực tiếp điều khiển xe mô tô, trong vụ án này bị hại là người ngồi sau, người điều khiển xe mô tô là Trịnh Văn H4, vì vậy bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự tội “Giết người” do lỗi cố ý gián tiếp. Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng án lệ số 59/2023/AL xét xử bị cáo về tội “Giết người” do lỗi cố ý gián tiếp.

Việc Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Cảnh L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4, Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận chấp nhận kháng cáo xét xử bị cáo Nguyễn Cảnh L về 02 tội: “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Giết người” của đại diện hợp pháp của bị hại ông Bùi Trung T6, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2.3] Đối với kháng cáo tăng mức bồi thường: Tại phiên toà phúc thẩm đại diện hợp pháp của người bị hại thống nhất với tất cả các khoản tiền mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét 02 khoản tiền: Tổn thất tinh thần và cấp dưỡng cho bố mẹ bị hại. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với tiền tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 591 Bộ luật dân sự quy định là không quá 100 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định, việc anh Bùi Trung S chết là do bị cáo Nguyễn Cảnh L gây ra do đó toà án cấp sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Cảnh L phải có trách nhiệm bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho người đại diện hợp pháp của bị hại 60 tháng lương cơ bản: Cụ thể là 60 tháng x 1.800.000đồng/tháng = 108.000.000 đồng là phù hợp. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về tiền cấp dưỡng: Xét thấy ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V là người thừa kế ở hàng thứ nhất của anh Bùi Trung S và không thuộc trường hợp mất khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình được quy định tại Điều 111 Luật hôn nhân gia đình và khi còn sống thì anh Bùi Trung S không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho ông, bà. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V buộc bị cáo bồi thường tiền cấp dưỡng là có căn cứ. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp.

[3] Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Cảnh L đã tự nguyện tác động gia đình, bồi thường thêm cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương. Xét thấy việc bị cáo bồi thường thêm là sự tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác nên cần ghi nhận sự tự nguyện này trong phần quyết định, tạo thuận lợi cho gia đình bị hại trong quá trình thi hành án.

Ngoài ra, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã thi hành số tiền phải bồi thường tiếp cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V theo quyết định của bản án sơ thẩm là 23.867.000 đồng (đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương) nên cần khấu trừ cho bị cáo.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
    • - Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh L 05 (Năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/11/2022.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T3 và bị cáo Trần Đình T1 mỗi bị cáo 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
    • Giao bị cáo Trần Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Nghệ An nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Văn T3.

      Giao bị cáo Trần Đình T1 cho Ủy ban nhân dân Thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Nghệ An nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Đình T1.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 288, Điều 584, Điều 585, Điều 590 và Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015.
    • - Buộc bị cáo Trần Văn T3, Trần Đình T1 có nghĩa vụ liên đới bồi cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền 21.333.000 đồng (Hai mốt triệu, ba trăm ba ba ngàn) đồng. Chia kỷ phần:
    • Bị cáo Trần Văn T3 phải bồi thường cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền: 10.666.000 (Mười triệu, sáu trăm sáu sáu ngàn) đồng.

      Bị cáo Trần Đình T1 phải bồi thường cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền: 10.667.000 (Mười triệu, sáu trăm sáu bảy ngàn) đồng.

    • - Buộc bị cáo Nguyễn Cảnh L phải bồi thường cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền 158.867.000 (Một trăm năm mươi tám triệu, tám trăm sáu mươi bảy ngàn) đồng. Bị cáo Nguyễn Cảnh L được trừ đi số tiền 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng đã bồi thường và số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu), số tiền 23.867.000 (Hai mươi ba triệu, tám trăm sáu mươi bảy ngàn) đồng đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự Thanh Chương theo các biên lai thu tiền số 0012065 ngày 12/12/2023; số 0012071 ngày 21/12/2023.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Cảnh L, bồi thường thêm cho ông Bùi Trung T6 và bà Hoàng Thị V số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng được trừ vào số tiền đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Thanh Chương theo biên lai thu tiền số 0012140 ngày 10/4/2024.

  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - TAND, VKSND h. T;
  • - CA, THADS h. T;
  • - UBND xã T, Thị Trấn T;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS - PT ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 64/2024/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger