Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/9/2024

V/v Tranh chấp Hôn nhân

và gia đình về ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Cao Thị Diệu Hiền.
  2. Ông Nguyễn Văn Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 143/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Số D, đường K, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ

Bị đơn: Ông Đặng Văn B, sinh năm 1954.

Địa chỉ: Số A, đường P, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M trình bày:

– Về quan hệ vợ chồng: Sau thời gian tìm hiểu khoảng 01 tháng bà M và ông B chung sống như vợ chồng từ năm 1994, không có tổ chức đám cưới, không đăng ký kết hôn, do điều kiện kinh tế khó khăn lo làm ăn nên không nghĩ tới việc kết hôn. Vợ chồng sống chung bên gia đình nhà chồng, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 1997 phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế gia đình khó khăn, thường xuyên gây gổ, cự cãi, không có tiếng nói chung, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 1997 đến nay. Nay bà M nhận thấy không còn tình cảm với ông B, bà M yêu cầu ly hôn ông B.

– Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Đặng Thị Thùy T, sinh năm 1995, đã thành niên, có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Đặng Văn B trình bày:

– Về quan hệ vợ chồng: Ông B thống nhất theo lời trình bày của bà M về thời gian chung sống, vợ chồng sống chung không có tổ chức đám cưới, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến năm 1997 phát sinh mâu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên mâu thuẫn, gây gỗ chuyện kinh tế, gia đình làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 1997 đến nay. Nay ông B nhận thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn, tình cảm không còn với bà M, ông B đồng ý ly hôn bà M.

– Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Đặng Thị Thùy T, sinh năm 1995, đã thành niên, có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M khởi kiện yêu cầu ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn”. Bị đơn ông Đặng Văn B cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn ông Đặng Văn B có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn theo thủ tục chung.
  3. [3] Về nội dung: Xét yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc M về việc yêu cầu ly hôn ông Đặng Văn B, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    [3.1] Bà M và ông B chung sống như vợ chồng từ năm 1994, trên cơ sở tự nguyện, không có tổ chức đám cưới, không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

    Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

    “1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

    Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý...".

    Đồng thời, tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

    “1. N, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.

    Lẽ ra, trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay, bà M và ông B phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp, nhưng bà M và ông B đã không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông B không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hơn nữa, trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng, giữa bà M và ông B đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do quan điểm sống, tính tình không phù hợp, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 1997 đến nay. Nay ông, bà đều xác định tình cảm không còn, cả hai đều có nguyện vọng được ly hôn. Tuy nhiên, do ông, bà không có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật nên không thể công nhận sự thuận tình ly hôn.

    Tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

    “2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...”.

    Do đó, căn cứ vào Khoản 1 Điều 14 và Khoản 2 Điều 53, Hội đồng xét xử không công nhận bà M và ông B là vợ chồng.

    [3.2] Về con chung: Có 01 con tên Đặng Thị Thùy T, sinh năm 1995, đã thành niên, có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên không tranh chấp yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    [3.3] Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà M và ông B trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà M phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Ngọc M và ông Đặng Văn B.
  2. Về con chung: Có 01 con tên Đặng Thị Thùy T, sinh năm 1995, đã thành niên, có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên không tranh chấp yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
  3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc M và ông Đặng Văn B không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc M nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng, bà M đã nộp ngày 23/8/2024 theo biên lai thu số 0007806 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án để xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Minh T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn

  • Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai bên
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger