|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09-12-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Năm
- Ông Vũ Văn Quân
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiếu Ly – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Thúy H, sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Đặng Minh K, sinh năm 2000; Địa chỉ thường trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Hiện đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An, có đơn xin vắng mặt, nên không triệu tập)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Hữu H1, sinh năm 1980 và bà Lê Thị Yến C, sinh năm 1981; Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (cùng có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 10/10/2024, bản tự khai ngày 21/10/2024, bản tự khai ngày 29/11/2024, thì nội dung khởi kiện của chị Tạ Thị Thúy H đối với anh Đặng Minh K được tóm tắt như sau: Chị H và anh K cưới nhau năm 2022, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 28/2022 vào ngày 12/10/2022. Vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung tên Đặng Tấn L, sinh ngày 11/12/2022 và Đặng Ngọc Thiên P, sinh ngày 04/02/2024. Tuy nhiên, đến thời gian gần đây, vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, anh K thường xuyên chửi mắng, đánh đập chị H, chỉ lo ăn chơi, nghiện ngập ma túy, không quan tâm vợ con, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Do đó, chị H đã mang cháu P về nhà cha mẹ ruột sinh sống, còn cháu L thì do ông bà nội là ông Đặng Hữu H1, bà Lê Thị Yến C trực tiếp nuôi dưỡng vì anh K phải đi cai nghiện tập trung với thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An từ ngày 10/10/2024 theo quyết định của Tòa án. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh K. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Ngọc Thiên P, sinh ngày 04/02/2024. Đối với con chung tên Đặng Tấn L, sinh ngày 11/12/2022, chị H đồng ý để anh K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, nhưng do hiện tại anh K đang đi cai nghiện tập trung, nên chị H đồng ý để cho ông bà nội cháu L là ông Đặng Hữu H1, bà Lê Thị Yến C trực tiếp nuôi dưỡng cháu L trong thời gian anh K cai nghiện.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H xác định để các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định để các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Đặng Minh K trình bày tại bản tự khai ngày 25/11/2024 được tóm tắt như sau: Anh K đồng ý ly hôn với chị H. Khi ly hôn, anh K đồng ý được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: anh K xác định để các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đặng Hữu H1, bà Lê Thị Yến C cùng thống nhất trình bày tại bản tự khai ngày 04/12/2024 như sau:
Ông H1 và bà C là cha mẹ ruột của anh Đặng Minh K, hiện nay cháu Đặng Tấn L, sinh ngày 11/12/2022 đang do ông H1 và bà C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, vì anh K đang đi cai nghiện tập trung với thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An từ ngày 10/10/2024 theo quyết định của Tòa án. Nay vợ chồng anh K và chị H ly hôn, chị H có ý kiến đồng ý để cho ông H1, bà C trực tiếp nuôi dưỡng cháu L trong thời gian anh K cai nghiện, thì ông H1, bà C thống nhất với ý kiến của chị H. Ông H1, bà C sẽ tạm thời thực hiện việc trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, đến khi nào anh K hoàn thành việc cai nghiện, thì ông H1, bà C sẽ giao cháu L lại cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian ông H1, bà C nuôi cháu L thì không yêu cầu chị H hay anh K phải cấp dưỡng nuôi cháu L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các bên đoàn tụ. Tuy nhiên, do bị đơn anh Đặng Minh K đang đi cai nghiện tập trung với thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An từ ngày 10/10/2024 theo quyết định của Tòa án và có đơn xin vắng mặt tại các phiên hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Sau đó nguyên đơn Tạ Thị Thúy H có đơn đề nghị không hòa giải, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật. Chị H, anh K và ông H1, bà C đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét tính hợp pháp về quan hệ hôn nhân giữa các bên, thấy rằng: Chị H và anh K cưới nhau năm 2022, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 28/2022 vào ngày 12/10/2022, nên quan hệ hôn nhân của chị H và anh K là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.
[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của chị H thấy rằng: Chị H xác định vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn, nên mới khởi kiện xin ly hôn. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, anh K có bản khai thể hiện ý kiến đồng ý ly hôn với chị H. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến về việc thuận tình ly hôn của chị H và anh K.
[2.3] Về quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung: Anh Khoa có bản khai nêu ý kiến muốn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Tuy nhiên, anh K đang đi cai nghiện tập trung với thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An từ ngày 10/10/2024 theo Quyết định số 22/QĐ-TA ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, nên không thể đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Xét thấy, cháu Đặng Ngọc Thiên P, sinh ngày 04/02/2024, chưa đủ 36 tháng tuổi, hiện đang do mẹ là chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, nên cần giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Đối với cháu Đặng Tấn L, sinh ngày 11/12/2022, chị H có ý kiến đồng ý giao cho anh K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, nhưng hiện tại anh K đang phải đi cai nghiện nên chị H đồng ý để ông bà nội cháu L là ông H1 và bà C tạm thời trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, nên cần tiếp tục giao cho ông H1 và bà C tạm thời trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trong thời gian anh K cai nghiện.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con chung, chia tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này đương sự có tranh chấp, thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu 75.000đ án phí ly hôn. Anh K phải chịu 75.000đ án phí ly hôn. Ông H1 và bà C không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 53, Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ9-HĐTP ngày 15/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Tạ Thị Thúy H và anh Đặng Minh K.
- 2. Về quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung:
- 2.1. Chị Tạ Thị Thúy H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Ngọc Thiên P, sinh ngày 04/02/2024, hiện đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
- 2.2. Anh Đặng Minh K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Tấn L, sinh ngày 11/12/2022. Trong thời gian anh K thực hiện việc cai nghiện tập trung với thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An từ ngày 10/10/2024 theo Quyết định số 22/QĐ-TA ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, thì cháu L sẽ tạm thời do ông bà nội cháu L là ông Đặng Hữu H1, bà Lê Thị Yến C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi nào anh K cai nghiện xong, thì ông Đặng Hữu H1, bà Lê Thị Yến C có nghĩa vụ giao cháu L lại cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
- 3. Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thì bên đang trực tiếp nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bên không trực tiếp nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Bên đang trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của bên không trực tiếp nuôi con chung.
- 4. Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì chị H, anh K, người thân thích của cháu L và cháu P, Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật.
- 5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu 75.000đ án phí ly hôn. Chuyển số tiền 300.000đ tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0003186 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh sang thi hành án phí, nên hoàn lại cho chị Hằng số tiền tạm ứng án phí còn thừa là 225.000đ. Anh K phải nộp 75.000đ án phí sung vào Ngân sách Nhà nước. Ông H1 và bà C không phải chịu án phí.
- 6. Án xử sơ thẩm công khai, chị H, anh K, ông H1, bà C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- 7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xác định vợ chồng nhiều mâu thuẫn, tình cảm không còn, nên xin ly hôn với anh K
