|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/7/2024 V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thêu
- Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
- Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXX-ST ngày 17/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 43/2024/QĐ-ST ngày 03/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986
- Địa chỉ: Xóm T, thôn Đ, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội.
- - Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1985
- HKTT: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản.
- (Chị H, anh T đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai cùng các tài liệu chứng cứ đã xuất trình nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn T kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 12/3/2018 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh thái Bình. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn N, huyện T, tỉnh Thái Bình được 1 thời gian thì đến tháng 4/2018 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Đến tháng 5/2018, anh T đi lao động tại Nhật Bản còn chị ở nhà nên vợ chồng xa cách không hỏi han gì đến nhau. Cả hai rất ít nhắn tin, gọi điện cho nhau, mãi đến gần đây khi xác định không còn tình cảm, chị H mới liên lạc với anh T để thỏa thuận việc ly hôn. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị làm đơn này xin được ly hôn với anh Vũ Văn T. Về quan hệ con chung: Anh chị không có con chung, hiện nay chị không mang thai. Về tài sản chung: Không có nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Anh chị không vay nợ chung cũng như không cho ai vay tiền hoặc tài sản chung nào khác.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/6/2024, ông Vũ Văn T1 (là bố đẻ của anh T) trình bày: Chị H và anh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày vào ngày 12/3/2018. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình ông được 1 thời gian thì đi làm ăn. Đến tháng 6/2018, anh T đi lao động tại Nhật Bản. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn nhưng cụ thể nguyên nhân ông không nắm được. Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, ông đã báo cho anh T việc chị H xin ly hôn, anh T thông tin rằng nếu chị H cương quyết ly hôn thì anh đồng ý. Về quan hệ con chung: Anh chị không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, anh chị không đóng góp gì vào tài sản gia đình ông.
- Tại Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình thể hiện anh T, chị Hòa kết h vào ngày 12/3/2018 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh thái Bình. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn V, xã N được 1 thời gian thì anh T đi lao động tại Nhật Bản. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn nhưng cụ thể nguyên nhân địa phương không nắm được. Về con chung: Anh chị không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung địa phương không nắm được, anh chị không vay nợ các quỹ ở địa phương.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn T. Về con chung: Không có nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bị đơn là anh Vũ Văn T có hộ khẩu thường trú tại: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện nay anh T đang cư trú tại Nhật Bản, đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do; nguyên đơn – chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã N nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa theo quy định Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị H, anh T tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do kinh tế và bất đồng quan điểm sống. Anh chị không gặp nhau, chỉ thông tin, liên lạc với nhau về chuyện ly hôn chứ không quan tâm nhau nữa. Như vậy có căn cứ để xác định mẫu thuẫn vợ chồng trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, phía gia đình anh T thông tin rằng chị H xin ly hôn, anh T đã biết và đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải chấp nhận xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị H, anh T không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Văn T.
- Về quan hệ con chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản: Không có yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai số 0000194 ngày 27/5/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Luân |
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Vũ Văn T
