|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/DS-PT Ngày: 03/6/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Trầm
Ông Nguyễn Trung Tín
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Bà Lê Đăng Phương Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 03/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án dân sự thụ lý số 30/2024/TLPT-DS ngày 31/01/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2023/DS-ST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 40/2024/QĐ-PT ngày 29/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Minh T, sinh năm 1962
- Bị đơn: - Ông Chế Văn T2, sinh năm 1971
- Người kháng cáo: ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L; cùng địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Là bị đơn trong vụ án.
Địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Trần Huyền T1, sinh năm 2000 (văn bản ủy quyền công chứng số 2579, quyền số 03/2023 TP CC-SCC/HĐGD ngày 20/3/2023); địa chỉ: Số E P, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C - Luật sư Công ty L1 - Chi nhánh K. Có mặt.
- Bà Dương Thị Kim L, sinh năm 1974
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Hồng H - Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Hồng H thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 28/10/2022 và đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 09/11/2022, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Trần Huyền T1 trình bày:
Bà Võ Thị Minh T và vợ chồng ông Chế Văn T2, bà Dương Thị Kim L là hàng xóm lâu năm của nhau. Từ năm 2017 đến năm 2019, vợ chồng ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L có vay tiền của bà Võ Thị Minh T nhiều lần với mục đích để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư đối với thửa đất số 142 tờ bản đồ 23, diện tích 1198,5m² tọa lạc tại xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vợ chồng ông T2, bà L đã vay của bà T tổng cộng là 11 (mười một) lần với tổng số tiền gốc là 370.000.000 đồng. Vợ chồng ông T2, bà L cam kết sẽ thế chấp quyền sử dụng đất cho ngân hàng để vay tiền trả cho bà T. Tuy nhiên, sau khi đến hạn các khoản nợ thì vợ chồng ông T2, bà L không thực hiện việc trả nợ với lý do chưa chuyển mục đích sử dụng đất được nên chưa vay được ngân hàng. Đến đầu năm 2020, bà T nhiều lần yêu cầu ông T2, bà L thanh t các khoản nợ quá hạn theo các hợp đồng vay tài sản (Giấy mượn tiền) nhưng ông T2, bà L không trả nên bà T khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm yêu cầu vợ chồng ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L phải thanh toán cho bà T tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 544.970.363 đồng. Trong đó, tiền gốc là 370.000.000 đồng, tiền lãi là 174.970.363 đồng.
- Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L trình bày:
Vợ chồng ông T2, bà L làm nghề mua bán heo. Năm 2017, vì cần tiền mua bán heo nên có mượn tiền của bà T 11 lần với tổng số tiền 370.000.000 đồng. Mỗi lần mượn tiền ông T2, bà L đều ký nhận vào “Giấy mượn tiền”. Ông T2, bà L đã thực hiện việc trả tiền đúng như cam kết ghi trong các “Giấy mượn tiền” nhưng do tin tưởng nên ông T2, bà L không lấy lại giấy mượn tiền, không hủy giấy mượn tiền hay yêu cầu bà T viết giấy ký xác nhận việc đã nhận đủ tiền.
Vợ chồng ông T2, bà L xác định hiện nay không còn nợ bà T nên không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2023/DS-ST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã căn cứ: Điều 463; 466; khoản 1, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Buộc bị đơn ông ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L phải trả cho bà Võ Thị Minh T số tiền là 544.970.363 đồng (Năm trăm bốn mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng) (gồm gốc 370.000.000 đồng và tiền lãi 174.970.363 đồng tạm tính đến ngày xét xử) và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Về án phí: Bị đơn ông ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 25.798.815 đồng. H1 lại cho bà Võ Thị Minh T 12.065.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2021/0009426 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quy định chung, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 12/12/2023, bị đơn ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L trình bày: Giữ nguyên kháng cáo.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, luật sư Nguyễn Hồng H trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2023/DS-ST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm vì (1) đã giải quyết quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ; (2) chưa xem xét thời hiệu đối với phần lãi quá hạn.
- - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Trần Huyền T1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, luật sư Nguyễn Thị Kim C trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với nội dung kháng cáo của bị đơn, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự về nội dung và thời hạn kháng cáo nên có cơ sở để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và kháng cáo của ông T2 và bà L, thấy rằng ông T2, bà L thừa nhận có mượn của bà T các khoản tiền theo 11 “Giấy mượn tiền”; ông T2, bà L kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc ông, bà đã thanh toán hết nợ cho bà T. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L, buộc bị đơn trả cho nguyên số tiền là 544.970.363 đồng (Năm trăm bốn mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng) (gồm nợ gốc 370.000.000 đồng và tiền lãi 174.970.363 đồng); sửa án sơ thẩm đối với phần quyết định về lãi suất, bị đơn không phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L kháng cáo bản án sơ thẩm và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn luật định, nên nội dung kháng cáo của ông T2, bà L được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều xác định không nộp thêm tài liệu chứng cứ so với giai đoạn xét xử sơ thẩm.
- [3] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L:
- [3.1] Về khoản tiền nợ gốc:
- Ngày 26/6/2017 âm lịch, mượn số tiền 40.000.000 đồng (BL 23).
- Ngày 01/10/2018, mượn số tiền 30.000.000 đồng (BL 24).
- Ngày 13/9/2018 âm lịch, mượn số tiền 57.000.000 đồng (BL 26).
- Ngày 25/9/2018, mượn số tiền 20.000.000 đồng (BL 27).
- Ngày 11/12/2018, mượn số tiền 50.000.000 đồng (BL 28).
- Ngày 13/11/2018, mượn số tiền 10.000.000 đồng (BL 29).
- Ngày 25/11/2018, mượn số tiền 20.000.000 đồng (BL 30).
- Ngày 27/12/2018 âm lịch, mượn số tiền 20.000.000 đồng (BL 31).
- Ngày 28/12/2018 âm lịch, mượn số tiền 10.000.000 đồng (BL 32).
- Ngày 30/12/2018, mượn số tiền 83.000.000 đồng (BL 33).
- Ngày 02/12/2019, mượn số tiền 30.000.000 đồng (BL 34).
- [3.2] Về tiền lãi:
- Ngày 26/6/2017 âm lịch (ngày 19/7/2017 dương lịch) mượn số tiền 40.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 05 tháng; thời gian tính lãi từ ngày 20/7/2017 đến ngày 07/12/2023 là 71 tháng 18 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 23.771.200 đồng.
- Ngày 01/10/2018 mượn số tiền 30.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 05 tháng; thời gian tính lãi từ ngày 02/3/2019 đến ngày 07/12/2023 là 57 tháng 06 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 14.242.800 đồng.
- Ngày 13/9/2018 âm lịch (ngày 21/10/2018 dương lịch) mượn số tiền 57.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 05 tháng; thời gian tính lãi từ ngày 22/3/2019 đến ngày 07/12/2023 là 56 tháng 16 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 26.745.920 đồng.
- Ngày 25/9/2018 mượn số tiền 20.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 06 tháng; thời gian tính lãi từ ngày 26/3/2019 đến ngày 07/12/2023 là 56 tháng 12 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 9.362.400 đồng.
- Ngày 11/12/2018 mượn số tiền 50.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 05 tháng; thời gian tính lãi từ ngày 12/5/2019 đến ngày 07/12/2023 là 54 tháng 26 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 22.769.667 đồng.
- Ngày 13/11/2018 mượn số tiền 10.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 01 tháng; thời gian tính lãi từ ngày 14/12/2018 đến ngày 07/12/2023 là 59 tháng 24 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 4.963.400 đồng.
- Ngày 25/11/2018 mượn số tiền 20.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 04 tháng; ngày đến hạn trả nợ là ngày 25/3/2019; nguyên đơn tính lãi từ ngày 26/4/2019 đến ngày 07/12/2023 là 55 tháng 12 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 9.196.400 đồng.
- Ngày 27/12/2018 âm lịch (ngày 01/02/2019 dương lịch) mượn số tiền 20.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 05 tháng; thời gian tính lãi từ ngày 02/7/2019 đến 07/12/2023 là 53 tháng 06 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 8.831.200 đồng.
- Ngày 28/12/2018 âm lịch (ngày 02/01/2019 dương lịch) mượn số tiền 10.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 15/3/2019 âm lịch (ngày 19/4/2019 dương lịch); nguyên đơn tính lãi từ ngày 03/7/2019 đến ngày 07/12/2023 là 53 tháng 05 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 4.412.833 đồng.
- Ngày 30/12/2018 mượn số tiền 83.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 02 tháng; thời gian tính lãi từ ngày 01/3/2018 đến ngày 07/12/2023 là 57 tháng 07 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 39.428.043 đồng.
- Ngày 02/12/2019 mượn số tiền 30.000.000 đồng; thời hạn trả nợ 03 tháng; thời gian tính lãi từ ngày 03/3/2020 đến ngày 07/12/2023 là 45 tháng 05 ngày; lãi suất 0,83%/tháng; tiền lãi quá hạn là 11.246.500 đồng.
- [3.3] Đối với đề nghị hủy bản án sơ thẩm của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, các bên đương sự không có yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với việc tính lãi quá hạn nên Tòa án không áp dụng thời hiệu là đúng quy định khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm vừa quyết định bị đơn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ vừa quy định trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ là chưa đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm, nên Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp.
- [3.4] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nội dung quyết định của bản án dân sự sơ thẩm là có căn cứ đúng quy định của Bộ luật Dân sự. Kháng cáo của ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L, ý kiến về việc hủy bản án sơ thẩm của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận.
- [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Chế Văn T2, bà Dương Thị Kim L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo Điều 148 và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T2, bà L thừa nhận có vay tiền của bà T 11 (Mười một) lần theo các “Giấy mượn tiền”, cụ thể:
Như vậy, tổng số tiền ông T2, bà L vay của bà T là 370.000.000 đồng. Ông T2, bà L cho rằng không còn nợ tiền bà T vì đã trả toàn bộ số tiền vay 370.000.000 đồng và vì xóm làng tin tưởng nhau nên ông, bà không lấy lại hoặc hủy “Giấy mượn tiền” khi trả hết nợ; không yêu cầu bà T viết giấy xác nhận đã nhận đủ tiền trả nợ. Bà T không thừa nhận việc trả nợ của ông T2, bà L. Hội đồng xét xử xét thấy ông T2, bà L cho rằng đã trả hết nợ nhưng không cung cấp được tài liệu gì để chứng minh cho việc trả nợ của mình; bà T căn cứ vào 11 “Giấy mượn tiền” có chữ ký xác nhận của ông T2, bà L để yêu cầu ông T2, bà L phải trả nợ vay là có căn cứ, phù hợp các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn ông Chế Văn T2, bà Dương Thị Kim L trả nợ cho bà Võ Thị Minh T số tiền gốc 370.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Theo nội dung các “Giấy mượn tiền” do ông T2, bà L ký xác nhận có thể hiện thời hạn trả nợ và không thỏa thuận về lãi suất. Tuy nhiên, việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn nên bà T yêu cầu vợ chồng ông T2, bà L trả lãi trên số tiền gốc với mức lãi suất 0.83%/tháng, thời gian tính lãi trên số tiền gốc quá hạn được tính từ ngày tiếp theo ngày đến hạn trả nợ gốc đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 1 Điều 5; điểm b khoản 3 Điều 6 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cụ thể lãi quá hạn đối với từng “Giấy mượn tiền”:
Như vậy, tổng số tiền lãi quá hạn là 174.970.363 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn ông Chế Văn T2, bà Dương Thị Kim L trả cho bà Võ Thị Minh T số tiền lãi quá hạn là 174.970.363 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Minh T. Buộc ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L phải trả cho bà Võ Thị Minh T số tiền là 544.970.363 đồng (Năm trăm bốn mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng) (gồm nợ gốc 370.000.000 đồng và tiền lãi 174.970.363 đồng)
- Về án phí:
- Ông Chế Văn T2, bà Dương Thị Kim L phải chịu 25.798.815 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Chế Văn T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông T2 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007540 ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.
Bà Dương Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007541 ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.
Như vậy, ông Chế Văn T2 và bà Dương Thị Kim L chỉ còn phải nộp 25.798.815 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại cho bà Võ Thị Minh T 12.065.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số AA/2021/0009426 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.
- Ông Chế Văn T2, bà Dương Thị Kim L phải chịu 25.798.815 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Quy định:
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 03/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thành |
Bản án số 64/2024/DS-PT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 64/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Kim T tranh chấp với Chế Văn T về Hợp đồng vay tài sản
