|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/DS-ST Ngày: 24-7-2024 V/v tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hoàng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Đẹp và ông Tô Phú Mỹ.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân - Thư ký TAND Tp. Sa Đéc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024, về việc “tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 43/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Hồng S, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trần Hữu N, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đ. Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024).
- Bị đơn: Anh Phan Thượng H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Số C, Dãy A, KDC Đ, ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Tại phiên tòa: Anh N có mặt. Anh H vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện nguyên đơn - anh Phạm Hồng S, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, anh Trần Hữu N là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Từ mối quan hệ quen biết, ngày 20/4/2023, anh Phạm Hồng S cho anh Phan Thượng H vay số tiền 260.000.000đ; mục đích vay: để anh H sửa chữa nhà ở và kinh doanh mua bán; khi vay có viết “giấy mượn tiền”; thời hạn vay 01 tháng; lãi suất vay, hai bên thỏa thuận bằng lời nói là 20%/năm.
Sau khi vay, anh H không trả lãi như thỏa thuận; vốn chưa trả cho anh S.
Nay, anh S yêu cầu anh H trả vốn vay 260.000.000đ và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 21/5/2023 đến ngày 21/7/2024 (14 tháng), thành tiền là 30.212.000đ; tổng cộng vốn, lãi là 290.212.000đ.
Ngoài ra, anh S không có yêu cầu gì khác.
Từ khi thụ lý cho đến thời điểm xét xử vụ án, bị đơn - anh Phan Thượng H không nộp văn bản ghi ý kiến và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án. Những lần Tòa án triệu tập, anh H đều vắng mặt, không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (Phiên họp) mà không tiến hành hòa giải và cũng đã thông báo kết quả Phiên họp cho anh H biết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc anh Phan Thượng H trả cho anh Phạm Hồng S số tiền vốn vay 260.000.000đ và tiền lãi trên vốn vay, theo mức lãi suất 0,83%/tháng, tính từ ngày 21/5/2023 đến ngày 21/7/2024. Về án phí giải quyết theo quy định của pháp luật (có văn bản phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả nợ vay; xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Tại phiên tòa: Bị đơn - anh Phan Thượng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Hồng S về việc yêu cầu anh Phan Thượng H trả số tiền vốn vay 260.000.000đ và 30.212.000đ tiền lãi; tổng cộng vốn, lãi là 290.212.000đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về giao dịch được xác lập giữa các bên đương sự:
[2.1.1]. Qua xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của nguyên đơn thể hiện: Từ mối quan hệ quen biết, ngày 20/4/2023, anh Phạm Hồng S cho anh Phan Thượng H vay số tiền 260.000.000đ, thời hạn vay 01 tháng, mục đích vay: để anh H sửa chữa nhà ở và kinh doanh mua bán, theo “Giấy mượn tiền ngày 20/4/2023”; không thể hiện lãi suất vay.
[2.1.2]. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Phan Thượng H theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh H không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do. Ngoài ra, Tòa án cũng đã thông báo yêu cầu anh H giao nộp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thế nhưng, anh H không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định. Điều này đồng nghĩa, anh H đã từ bỏ quyền được Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
[2.1.3]. Tại Điều 91 bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh:
- “1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó có căn cứ và hợp pháp, ...
- 2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó...”.
Như vậy, “Giấy mượn tiền ngày 20/4/2023” là chứng cứ được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án. Theo đó, Hội đồng xét xử xác định: Anh H có vay của anh S số tiền 260.000.000đ; hai bên có xác lập hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch.
[2.2]. Về thực hiện hợp đồng vay:
[2.2.1]. Nguyên đơn xác định: Mặc dù “Giấy mượn tiền ngày 20/4/2023" không thể hiện lãi suất vay nhưng hai bên có thỏa thuận bằng lời nói lãi suất vay là 20%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh H không trả lãi và cũng chưa trả vốn cho anh S nên phát sinh tranh chấp. Đồng thời, anh H cũng không chứng minh rằng mình đã trả hết nợ cho anh S.
[2.2.2]. Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn;...”.
Theo đó, anh S yêu cầu anh H trả số tiền vốn vay 260.000.000đ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2.3]. Về tiền lãi:
Tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về lãi suất:
“1. Lãi suất do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định: Anh S yêu cầu anh H nợ lãi trên vốn vay 260.000.000đ theo mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 21/5/2023 đến ngày 21/7/2024 (14 tháng), thành tiền là 30.212.000đ là phù hợp với quy định của pháp luật đã viện dẫn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3]. Từ những nhận định trên: Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh H có nghĩa vụ trả cho anh S số tiền vốn vay 260.000.000đ và 30.212.000đ tiền lãi; tổng cộng vốn, lãi là 290.212.000đ.
[3]. Qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; các điều 91 và 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 468 và 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Hồng S.
Buộc anh Phan Thượng H trả cho anh Phạm Hồng S số tiền vốn vay 260.000.000đ và 30.212.000đ tiền lãi; tổng cộng vốn, lãi là 290.212.000đ (bằng chữ: Hai trăm chín mươi triệu hai trăm mười hai nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Anh Phan Thượng H phải chịu 14.511.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả lại cho anh Phạm Hồng S số tiền tạm ứng án phí 6.716.000₫ đã nộp theo biên lai số 0003972 ngày 25/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Anh |
Bản án số 64/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 64/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: buộc bên b trả số tiền vôn vay và lãi
