TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2024/DS-PT Ngày: 16/08/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Lâm.
Các Thẩm phán: Ông Lương Quang và bà Vũ Ngọc Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hải Mi- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân nhân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Ninh Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2024/DSPT ngày 02/7/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2024/DS-ST ngày 13/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 64/2024/QĐ-PT ngày 08/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Ngô Thị Hồng L, sinh năm 1964; Địa chỉ: D L, phường C, Tp., tỉnh Phú Yên; có mặt.
Bị đơn: vợ chồng ông Dương Quang T, sinh năm 1978, bà Trương Kiều Mỹ N, sinh năm 1978 ; Địa chỉ: E D, phường E, Tp ., tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
Uỷ quyền cho ông Ngô Minh T1, sinh năm 1975; địa chỉ B N, phường E, thành phố T. tỉnh Phú Yên; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng C; địa chỉ A H, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Ngân hàng TMCP V chi nhánh P; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và biên bản hòa giải nguyên đơn bà Ngô Thị Hồng L trình bày: Vào ngày 02 tháng 3 năm 2023 giữa bà và vợ chồng ông Dương Quang T, bà Trương Kiều Mỹ N có làm hợp đồng đặt cọc; theo đó vợ chồng ông T chuyển nhượng ngôi nhà và đất tại E D, phường E, thành phố T của vợ chồng ông T với giá 3.000.000.000 đồng, theo đó bà đặt cọc trước cho vợ chồng T 1.100.000.000 đồng và hẹn trong vòng 90 ngày thì vợ chồng ông T phải hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cho bà. Tuy nhiên, cho đến nay vợ chồng ông T vẫn không thực hiện như cam kết trong hợp đồng. Nay yêu cầu vợ chồng ông T, bà N phải trả tiền nhận cọc là 1.100.000.000 đồng và phạt cọc là 1.100.000.000 đồng theo quy định pháp luật.
Bị đơn vợ chồng ông Dương Quang T, bà Trương Kiều Mỹ N do ông Ngô Minh T1 đại diện theo uỷ quyền trình bày: Trước đây giữa ông T, bà N với bà L là chỗ quen biết nên vợ chồng ông T có vay của bà L nhiều lần với tổng số tiền 1.045.000.000 đồng (bao gồm nợ gốc và lãi); tất cả các khoản vay giấy tờ nhận nợ vợ chồng ông T không giữ mà bà L giữ. Sau đó vì làm ăn khó khăn nên bà L nói với vợ chồng ông T làm hợp đồng chuyển nhượng ngôi nhà E D, phường E, Tp. với giá 03 tỷ đồng. Trong đó bà L phải trả tiền Ngân hàng khoản vay vợ chồng anh T đã vay tại ngân hàng và 03 tỷ đồng là đưa cho vợ chồng anh T. Nên ngày 02 tháng 3 năm 2023 vợ chồng ông T, bà N mới thiết lập hợp đồng đặt cọc của ngôi nhà trên.
Nay bà L khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 2,2 tỷ đồng trong đó 1,1 tỷ tiền hợp đồng đặt cọc và 1,1 tỷ tiền phạt cọc, nguyên đơn không đồng ý với những lý do và đề nghị sau:
Đề nghị Toà án xem xét tuyên bố hợp đồng đặt cọc lập ngày 02 tháng 3 năm 2023 vô hiệu do vi phạm điều cấm pháp luật. Bởi lẽ khi thiết lập hợp đồng đặt cọc các bên không thể hiện việc giao nhận tiền, điều này thể hiện số tiền đặt cọc trên là từ hợp đồng vay tài sản mà trước đây các bên thiết lập. Mặt khác giá trị thực tế của hợp đồng chuyển nhượng là 03 tỷ đồng thấp hơn rất nhiều so với giá thị trường tại thời điểm thiết lập hợp đồng đặt cọc; đồng thời, khi các bên xác lập hợp đồng đặt cọc thì tài sản trên đã thế chấp tại Ngân hàng V như vậy Ngân hàng có quyền sở hữu chung của ngôi nhà 58C Duy Tân này.
Từ những phân tích trên đại diện theo uỷ quyền bị đơn đề nghị Toà án áp dụng quy định pháp luật tuyên bố hợp đồng đặt cọc lập ngày 02/3/2023 giữa bà L, vợ chồng anh T vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trên theo quy định.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn không tiến hành hoà giải được; đồng thời giữ nguyên ý kiến trình bày.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2024/DS-ST ngày 13/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng: Điều 328 của Bộ luật Dân sự 2015.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Hồng L.
Buộc bị đơn vợ chồng ông Dương Quang T, bà Trương Kiều Mỹ N phải trả cho nguyên đơn bà Ngô Thị Hồng L tổng số tiền 2.200.000.000 đồng(Hai tỷ hai trăm triệu đồng) về khoản hợp đồng đặt cọc; Trong đó tiền cọc 1.100.000.000 đồng và 1.100.000.000 đồng tiền phạt cọc.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi chậm trả, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22/5/2024, bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.
- Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Về nội dung: Áp dụng khoản 3 Điều 308 BLTTDS, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho TAND TP Tuy Hòa giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng:
Bị đơn kháng cáo yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 02/3/2024 giữa bà Ngô Thị Hồng L và vợ chồng ông Dương Quang T vô hiệu.
[2.1] Ngày 09/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tiến hành xác minh việc ông T, bà N có thế chấp nhà số E D, phường E, thành phố T tại Ngân hàng V1 nhưng không chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện việc kiểm sát theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật TTDS.
[2.2] Tại đơn trình bày ngày 02/10/2023, do ông T bà L cùng ký tên, có nội dung “Kính mong quý Tòa xem xét, giúp đỡ tôi và gia đình tôi mau chóng hủy giấy đặt cọc này và hai giấy mượn tiền vợ chồng tôi đã ghi trước đó...”. Cấp sơ thẩm đã không làm rõ đây là ý kiến trình bày hay yêu cầu phản tố của bị đơn để thụ lý giải quyết để làm sáng tỏ nội dung vụ án là không đúng quy định pháp luật.
[2.3] Hợp đồng đặt cọc ngày 02/3/2023, được Văn phòng C công chứng có nội dung đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại E D, phường E, thành phố T. Tài sản này đang được thế chấp để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng V1, quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm không yêu cầu Ngân hàng V2 có ý kiến gì về việc đặt cọc nhằm mục đích chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đang là tài sản được thế chấp tại Ngân hàng cũng như yêu cầu cung cấp các Hợp đồng liên quan đến việc thế chấp tài sản này để làm rõ thỏa thuận giữa vợ chồng ông T và Ngân hàng trong việc ràng buộc quyền, nghĩa vụ các bên.
[2.4] Về số tiền hợp đồng đặt cọc: Điều 2 hợp đồng ghi: “bên B (bà L) đặt cọc cho bên A (ông T, bà N) là 1,1 tỷ đồng vào ngày ký công chứng hợp đồng đặt cọc. Việc giao nhận tiền do hai bên tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm, ngoài sự chứng kiến của công chứng viên”. Nguyên đơn cho rằng đã đặt cọc cho bị đơn 1,1 tỷ đồng, nhưng không cung cấp chứng cứ giấy giao nhận tiền.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn cho rằng nguyên đơn không giao tiền đặt cọc 1,1 tỷ đồng cho bị đơn mà trước đây bị đơn có vay nguyên đơn nhiều lần số tiền nợ là 1.045.000.000đ, giấy tờ nợ do nguyên đơn giữ. Do đó việc xác định số tiền 1,1 tỷ đồng là khoản bị đơn vay của nguyên đơn hay khoản tiền nguyên đơn đặt cọc cho bị đơn để chuyển nhượng nhà đất mới có căn cứ giải quyết đúng bản chất vụ án nhưng Tòa án sơ thẩm không tiến hành đối chất giữa bị đơn và nguyên đơn để làm rõ từ trước đến nay nguyên đơn và bị đơn có hợp đồng vay tài sản nào không, nguyên đơn có đang giữ các giấy nhận nợ của bị đơn không, nếu có thì yêu cầu cung tài liệu chứng cứ và chưa làm rõ vì sao giá trị chuyển nhượng nhà đất 58C Duy Tân chỉ có 3 tỷ đồng trong khi năm 2021 bị đơn đi vay ngân hàng đã xác định giá trị nhà đất có giá 11.100.182.750đ;
[2.5] Việc nguyên đơn cho rằng quan hệ tranh chấp là hợp đồng đặt cọc, bị đơn cho rằng đây là hợp đồng giả cách, che giấu hợp đồng vay. Cấp sơ thẩm không định giá tài sản để xác định giá trị tài sản là E D, phường E, thành phố T để xem xét việc đặt cọc có phải hợp đồng giả tạo che giấu hợp đồng vay hay không.
Vụ án giải quyết có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, về nội dung thu thập xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm. Các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 38; Điều 91; khoản 2 Điều 112; Điều 138; 147; 148; 293; 294 và Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Hủy bản án số 18/2024/DS-ST ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Hoàn trả lại cho bị đơn 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002608 ngày 07/06/2024 của Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Trúc Lâm |
Bản án số 64/2024/DS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 64/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
