Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHIÊM HÓA

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2022/HS-ST

Ngày 30/8/2022

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tuyến;

2. Bà Ma Khánh Ly.

Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 63/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐXXST-HS, ngày 19/8/2022, đối với bị cáo:

Đặng Minh T, sinh ngày 20/6/1997, tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi ĐKHKTT, chỗ ở hiện nay: Thôn Nà Ng, xã Ngọc H, huyện Chiêm H, tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; bố đẻ: Đặng Văn N, sinh năm 1973; mẹ đẻ: Phạm Kim D, sinh năm 1976; vợ: Triệu Ánh L, sinh năm 2002 và có 01 con sinh năm 2021;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 20/12/2021 bị của Công an huyện Chiêm Hóa quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPVPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 750.000 đồng, đã nộp phạt;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2022. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Kim D, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn Nà N, xã Ngọc H, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/6/2022, Đặng Minh T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Dream, biển số 22F1-....... (xe của bà Phạm Kim D, mẹ đẻ của T) đi từ nhà đến khu vực thôn Tiên H, xã Vinh Q, huyện Chiêm H mục đích tìm mua chất ma túy về sử dụng. Khoảng 12 giờ cùng ngày T đi đến nơi thì gặp một người đàn ông không quen biết, tự giới thiệu tên là K, T hỏi và mua được 02 túi nilon màu trắng, trên mép có viền màu đỏ, có rãnh khóa, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng là chất ma túy, loại Methamphetamine, với giá 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng). Sau khi mua được chất ma túy T cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay đi về nhà. Khi vừa đi được khoảng 200m thì gặp tổ công tác Công an huyện Chiêm Hóa đang làm nhiệm vụ, nghi T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu T dừng lại để làm việc và mời người chứng kiến cùng tham gia. Quá trình làm việc T tự giác giao nộp 02 gói ma túy có đặc điểm nêu trên. Tổ công tác Công an huyện Chiêm Hóa đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng là 02 gói ma túy nêu trên và niêm phong theo quy định. Cùng ngày 09/6/2022 tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Đặng Minh T, kết quả: (-) Âm tính với chất ma túy.

Kết luận giám định số 702/KL-KTHS ngày 14/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,245g (không phẩy hai bốn lăm gam).

Tại Cáo trạng số 69/CT-VKSCH, ngày 18 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa đã truy tố bị cáo Đặng Minh T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Đặng Minh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • - Xử phạt bị cáo Đặng Minh T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 09/6/2022.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  • - Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy khối lượng Methamphetamine thu giữ của bị cáo đã được niêm phong.

  • - Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án.

2

Tại phiên tòa bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, không có tình tiết mới. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định. Bị cáo nhất trí luận tội, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Minh T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 09/6/2022, tại thôn Tiên H, xã Vinh Q, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang, Đặng Minh T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,245g (không phẩy hai bốn lăm gam), mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có 01 tiền sự, ngày 20/12/2021 bị của Công an huyện Chiêm Hóa quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPVPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 750.000 đồng, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,245 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm minh tương xướng với hành vi phạm tội của bị cáo tại

3

cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người lao động tự do, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích sử dụng, không có mục đích vụ lợi, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Đối với khối lượng Methamphetamine thu giữ của bị cáo đã được niêm phong là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 22F1-.., số khung 0803AY165094, số máy A08E-1465116, xe cũ đã qua sử dụng, ngày 21/7/2022 đã trả cho bà Phạm Kim D là chủ sở hữu hợp pháp.

[7]. Đối với người bán ma túy cho bị cáo Đặng Minh T, do không xác định được địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Đối với bà Phạm Kim D, là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 22F1-....., ngày 09/6/2022 bà D không biết Đặng Minh T sẽ sử dụng xe mô tô của mình vào mục đích phạm tội do vậy không đề cập xử lý.

[8]. Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

    Tuyên bố bị cáo Đặng Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Đặng Minh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 09/6/2022.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy khối lượng Methamphetamine thu giữ của bị cáo, được niêm phong trong 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đặng Minh T, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Đặng Minh T, giám định ngày 10/6/2022.

    Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Chiêm Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa ngày 29/8/2022.

4

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Đặng Minh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Chiêm Hóa;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Chiêm Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Mạnh Tuấn

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tuyến

Ma Khánh Ly

Hoàng Mạnh Tuấn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2022/HS-ST ngày 30/08/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 64/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử bị cáo pham tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger